TÓM TẮT
Đánh giá bệnh nhân – Bệnh nhân được chẩn đoán phình động mạch chủ ngực (TAA) cần được đánh giá các hội chứng di truyền tiềm ẩn liên quan đến phình và bóc tách động mạch chủ ngực (TAAD). Đồng thời, cần tầm soát các túi phình phối hợp khác (ví dụ: não, động mạch chủ bụng, động mạch mạc treo, động mạch chậu, động mạch đùi hoặc động mạch khoeo) thông qua chụp CT angiography hoặc siêu âm. Đối với bệnh nhân có triệu chứng, quá trình đánh giá này được thực hiện sau phẫu thuật. (Xem thêm ‘Quản lý TAA không triệu chứng’, ‘Xác định các tình trạng di truyền phối hợp’ và ‘Xác định túi phình phối hợp’ ở dưới.)
Chỉ định can thiệp
- TAA có triệu chứng – Bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng do TAA gây ra cần được can thiệp khẩn cấp (phẫu thuật mở hoặc can thiệp nội mạch), miễn là rủi ro can thiệp không quá cao. Các triệu chứng như đau ngực ở bệnh nhân TAA (đã biết hoặc chưa biết) có thể là dấu hiệu của sự giãn nhanh túi phình hoặc do nhiều biến chứng đe dọa tính mạng, bao gồm bóc tách động mạch chủ, hở van động mạch chủ cấp, rò rỉ động mạch chủ hoặc vỡ động mạch chủ hoàn toàn. (Xem thêm ‘TAA có triệu chứng (chưa vỡ) và TAA vỡ’ ở dưới và “Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán phình động mạch chủ ngực”, phần ‘TAA có triệu chứng’.)
- TAA không triệu chứng – Can thiệp chương trình cho TAA không triệu chứng chỉ được thực hiện khi nguy cơ vỡ hoặc các biến chứng khác vượt quá rủi ro của cuộc can thiệp. Với hầu hết bệnh nhân TAA không triệu chứng, chúng tôi áp dụng các tiêu chuẩn ngưỡng đã nêu trên để chỉ định can thiệp chương trình (bảng 1). Việc lựa chọn bệnh nhân can thiệp dựa trên đường kính, vị trí, tốc độ giãn và các bệnh lý đồng mắc, đồng thời xem xét các nguyên nhân căn bản. Với bệnh nhân không đáp ứng các tiêu chuẩn này, chúng tôi đề nghị không can thiệp chương trình (Khuyến cáo 2C). Những bệnh nhân này được theo dõi bảo tồn và sẽ được cân nhắc can thiệp nếu xuất hiện triệu chứng. (Xem thêm ‘Tóm tắt các chỉ định’ ở dưới.)
Theo dõi và điều trị nội khoa TAA không triệu chứng
Đa số TAA không gây triệu chứng; tuy nhiên, diễn tiến tự nhiên của TAA là giãn tiến triển, tùy thuộc vào vị trí, đường kính của túi phình và nguyên nhân căn bản. Đường kính túi phình là yếu tố quan trọng nhất quyết định nguy cơ biến chứng TAA. (Xem thêm ‘Theo dõi túi phình’ ở dưới.)
Bệnh nhân TAA không triệu chứng cần được theo dõi để phát hiện sớm các dấu hiệu và triệu chứng liên quan. Lịch theo dõi dựa trên nguyên nhân, vị trí, đường kính túi phình tại thời điểm chẩn đoán cũng như tốc độ giãn được xác định trong quá trình theo dõi. Lý tưởng nhất là thực hiện các nghiên cứu CT hoặc MRI angiography định kỳ bằng cùng một kỹ thuật hình ảnh tại cùng một trung tâm. (Xem thêm ‘Theo dõi túi phình’ ở dưới.)
- Sau lần chẩn đoán đầu tiên xác định TAA, chúng tôi đề nghị chụp hình ảnh sau 6 tháng để đảm bảo sự ổn định về đường kính và phạm vi túi phình.
- Nếu TAA không giãn sau 6 tháng, chúng tôi đề nghị chụp hình ảnh hàng năm.
- Nếu TAA giãn hoặc sắp đạt ngưỡng đường kính chỉ định can thiệp, chúng tôi đề nghị chụp hình ảnh mỗi 3 đến 6 tháng.
Đối với bệnh nhân TAA không triệu chứng điều trị bảo tồn, khuyến cáo kiểm soát tăng huyết áp để hạn chế sự giãn thêm của động mạch chủ. Chúng tôi đề nghị sử dụng thuốc chẹn beta thay vì các thuốc khác (Khuyến cáo 2C). Mục tiêu huyết áp tâm thu là 105 đến 120 mmHg nếu bệnh nhân dung nạp được. Thuốc ức chế men chuyển (ACE) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) là lựa chọn thay thế chấp nhận được cho những người không dung nạp thuốc chẹn beta. Vì hầu hết bệnh nhân có bệnh lý tim mạch phối hợp, việc quản lý các yếu tố nguy cơ tim mạch (ví dụ: cai thuốc lá, điều trị chống kết tập tiểu cầu, điều trị bằng statin) cũng rất quan trọng. Liệu pháp statin cũng có thể làm giảm các kết cục bất lợi liên quan đến TAA. (Xem thêm ‘Liệu pháp hạ huyết áp’ và ‘Quản lý TAA không triệu chứng’ ở dưới.)
Phương pháp can thiệp TAA
Việc lựa chọn phương pháp can thiệp TAA (phẫu thuật mở hoặc can thiệp nội mạch) cần cân nhắc đến vị trí, phạm vi giải phẫu của túi phình, nguyên nhân và tiên lượng sống còn của bệnh nhân (ngắn hạn và dài hạn), điều này tùy thuộc vào tuổi và các bệnh lý đồng mắc. (Xem thêm ‘Phẫu thuật điều trị phình động mạch chủ ngực’ ở dưới và “Can thiệp nội mạch động mạch chủ ngực” và “Tổng quan về phẫu thuật mở động mạch chủ ngực”.)
- TAA đoạn lên – TAA đoạn lên thường được xử trí bằng phẫu thuật mở có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể, thường yêu cầu thay gốc động mạch chủ và/hoặc tái trồng động mạch vành. (Xem thêm ‘TAA đoạn lên’ ở dưới.)
- TAA đoạn xuống – TAA đoạn xuống có thể được điều trị bằng phẫu thuật mở hoặc can thiệp nội mạch; sự lựa chọn tùy thuộc vào nguyên nhân là do thoái hóa hay do di truyền. Với TAA đoạn xuống do thoái hóa, chúng tôi đề nghị ưu tiên can thiệp nội mạch cho lần điều trị đầu tiên thay vì phẫu thuật mở, miễn là giải phẫu động mạch chủ ngực phù hợp để đặt stent-graft (Khuyến cáo 2C). Can thiệp nội mạch giúp giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong chu phẫu; tuy nhiên, độ bền dài hạn so với phẫu thuật mở vẫn chưa được xác định rõ. Phẫu thuật mở nên được áp dụng cho bệnh nhân TAAD có hội chứng di truyền. Phương pháp tiếp cận cho bệnh nhân TAAD không do hội chứng di truyền hiện chưa được quy định rõ ràng. (Xem thêm ‘TAA đoạn xuống’ ở dưới.)
