TÓM TẮT
Chỉ định can thiệp nội mạch
Phẫu thuật sửa chữa động mạch chủ ngực có thể được chỉ định cho nhiều bệnh lý khác nhau của động mạch chủ ngực. Đối với bệnh nhân có hoặc không kèm tổn thương động mạch chủ bụng, đặt stent-graft nội mạch đã được chấp nhận như một lựa chọn thay thế hợp lý cho phẫu thuật mở. Mặc dù tỷ lệ cần can thiệp lại sau khi đặt stent-graft khá cao, nhưng nhờ giảm thiểu được các biến chứng chu phẫu, phương pháp này được ưu tiên hơn phẫu thuật mở trong nhiều chỉ định. (Xem ‘Chỉ định can thiệp nội mạch động mạch chủ’ ở dưới.)
Đánh giá trước thủ thuật
Việc đánh giá trước thủ thuật ở bệnh nhân can thiệp nội mạch động mạch chủ ngực đòi hỏi phải đánh giá nguy cơ y khoa, cũng như đánh giá định lượng và định tính kỹ lưỡng giải phẫu cung động mạch chủ và động mạch chủ – chậu để xác định khả năng áp dụng can thiệp nội mạch. (Xem ‘Đánh giá nguy cơ y khoa’ và ‘Lập kế hoạch TEVAR’ ở dưới.)
Stent-graft động mạch chủ ngực
Các loại stent-graft động mạch chủ ngực hiện nay gồm ba thành phần (hệ thống đưa thiết bị, thân chính và các phần nối dài). Stent-graft được lắp đặt thông qua việc đưa và triển khai tuần tự các thành phần của thiết bị ngay trong cơ thể (in vivo). Mặc dù có sự khác biệt giữa các thiết bị, nhưng chưa có sự ưu thế rõ rệt của thiết bị này so với thiết bị khác. Tất cả các loại stent-graft đã được phê duyệt đều cho thấy hiệu quả ngắn hạn và trung hạn trong điều trị phình động mạch chủ ngực. (Xem ‘Stent-graft động mạch chủ ngực’ và “Thiết bị can thiệp nội mạch trong sửa chữa động mạch chủ ngực” ở dưới.)
Theo dõi stent-graft sau phẫu thuật
Chẩn đoán hình ảnh theo dõi định kỳ là bắt buộc sau khi đặt stent-graft động mạch chủ ngực nhằm đánh giá sự toàn vẹn và vị trí của stent-graft. Chúng tôi sử dụng CT để đánh giá stent-graft trong vòng một tháng sau can thiệp, sau đó thực hiện hàng năm hoặc sớm hơn nếu có bất kỳ vấn đề gì phát sinh. (Xem ‘Theo dõi stent-graft sau phẫu thuật’ ở dưới.)
Biến chứng và tử vong
Tỷ lệ tử vong chu phẫu đối với các loại stent-graft động mạch chủ ngực thế hệ thứ hai được đặt trong các trường hợp mổ chương trình là thấp (<3%). Tỷ lệ tử vong chu phẫu ở những bệnh nhân can thiệp nội mạch động mạch chủ ngực trong các tình huống cấp cứu, chẳng hạn như rách động mạch chủ hoặc bóc tách động mạch chủ, sẽ cao hơn. Các biến chứng chu phẫu đặc thù liên quan đến việc đặt stent-graft bao gồm: vị trí tiếp cận để đưa thiết bị vào, thiếu máu cục bộ liên quan đến thuyên tắc huyết khối trong quá trình đặt stent, hoặc hệ quả của việc che lấp các nhánh bên của động mạch chủ. Nguy cơ thiếu máu tủy sống tương đương với phẫu thuật mở, với tỷ lệ dao động từ 3% đến 11%. (Xem ‘Tử vong và biến chứng chu phẫu’ ở dưới.)
Can thiệp lại
Việc cần can thiệp lại lần hai không hiếm gặp sau khi đặt stent-graft động mạch chủ ngực, nguyên nhân thường liên quan đến rò nội mạch (endoleak), di lệch stent-graft và sự tiến triển của bệnh lý nền ban đầu. Việc tiếp tục theo dõi là vô cùng thiết yếu để phòng ngừa các biến cố động mạch chủ muộn. (Xem ‘Biến chứng và kết cục muộn’ ở dưới.)
