Phình mạch nội sọ chưa vỡ

TÓM TẮT

Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ

  • Trong cộng đồng, tỷ lệ lưu hành phình mạch não chưa vỡ ước tính khoảng 3%.
  • Nguy cơ hình thành phình mạch não tăng cao ở một số hội chứng di truyền, bao gồm hội chứng Ehlers-Danlos, bệnh thận đa nang (PKD) và các hội chứng khác. Ngoài các hội chứng di truyền này, tiền sử gia đình có phình mạch não cũng là một yếu tố nguy cơ.
  • Các yếu tố nguy cơ không do di truyền bao gồm tăng huyết áp và hút thuốc lá. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới và ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng

  • Hầu hết các túi phình chưa vỡ được phát hiện tình cờ qua các thăm dò chẩn đoán hình ảnh thần kinh hoặc qua tầm soát. Đôi khi, phình mạch có thể gây ra các triệu chứng chèn ép như liệt dây thần kinh sọ III. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh mạch máu não

  • Hầu hết các túi phình chưa vỡ được phát hiện bằng chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRA) và chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA), các phương pháp này có thể phát hiện túi phình có kích thước từ 5 mm trở lên. Chụp mạch máu truyền thống có độ nhạy cao hơn nhưng đi kèm với các rủi ro trong quá trình thực hiện thủ thuật.
  • Phần lớn các túi phình nội sọ (khoảng 85%) nằm ở hệ tuần hoàn trước, chủ yếu tại đa giác Willis. Khoảng 20 đến 30% các túi phình mạch não là đa túi phình. (Xem ‘Đặc điểm hình ảnh mạch máu’ ở dưới.)

Nguy cơ vỡ phình mạch

Can thiệp điều trị

  • Các phương pháp can thiệp phổ biến nhất đối với phình mạch là kẹp phình mạch bằng phẫu thuật và đặt vòng xoắn kim loại qua đường nội mạch (coiling).
  • Chỉ định can thiệp cần xem xét dựa trên nguy cơ vỡ túi phình:
    • Đối với bệnh nhân có phình mạch nội sọ có triệu chứng (ví dụ: liệt dây thần kinh sọ III), chúng tôi khuyến cáo can thiệp sớm bằng phẫu thuật hoặc nội mạch (Khuyến cáo 1C). Sự hiện diện của các triệu chứng gợi ý túi phình vừa mới giãn rộng, dẫn đến nguy cơ vỡ trong thời gian ngắn.
    • Đối với bệnh nhân có túi phình nhỏ (<7,0 mm), không có triệu chứng và không có yếu tố nguy cơ (bảng 1), chúng tôi đề xuất điều trị bảo tồn (Khuyến cáo 2C). Những túi phình này có nguy cơ vỡ thấp, trong khi các rủi ro tiềm ẩn từ can thiệp có thể lớn hơn lợi ích mang lại.
    • Đối với bệnh nhân có túi phình lớn hơn nhưng không có triệu chứng hoặc những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ, chúng tôi thực hiện việc ra quyết định chung (shared decision-making), dựa trên việc cân nhắc nguy cơ vỡ túi phình theo các yếu tố nguy cơ cụ thể (bảng 1) cũng như rủi ro thủ thuật, hoàn cảnh và nguyện vọng của từng bệnh nhân. Ví dụ, bệnh nhân có túi phình lớn (>10 đến 20 mm) hoặc túi phình nằm ở hệ tuần hoàn sau có khả năng được hưởng lợi nhiều hơn từ can thiệp; trong khi đó, những túi phình nhỏ hơn (<10 mm) hoặc nằm ở đoạn xoang hang động mạch cảnh trong hoặc động mạch não giữa thường có nguy cơ vỡ thấp hơn.
    • Việc lựa chọn giữa kẹp phình mạch bằng phẫu thuật và tắc mạch bằng phương pháp nội mạch cần được cá thể hóa, dựa trên các đặc điểm giải phẫu của túi phình và năng lực chuyên môn sẵn có. Cả hai phương pháp can thiệp đều hiệu quả; các nghiên cứu cho thấy kẹp phình bằng phẫu thuật có thể hiệu quả hơn đôi chút nhưng lại đi kèm với tỷ lệ biến chứng cao hơn.

Điều trị bảo tồn và theo dõi

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here