Tại Hội nghị EURETINA 2026 diễn ra ở Vienna (Áo), BS. Mahi Muqit (Đại học College London, Vương quốc Anh) chia sẻ: “We can tell our patients that there is a sustained and durable effect of maintaining visual function over time” (tạm dịch: “Chúng ta có thể khẳng định với người bệnh rằng thiết bị mang lại hiệu quả duy trì chức năng thị giác ổn định và lâu dài theo thời gian”).
Hệ thống PRIMA là một “electronic subretinal implant that replaces the photoreceptor function in patients to try and restore central vision” (tạm dịch: “thiết bị cấy dưới võng mạc giúp thay thế chức năng của các tế bào cảm thụ ánh sáng nhằm phục hồi thị lực trung tâm”), báo cáo viên giải thích thêm: “And it does not affect the peripheral natural vision” (tạm dịch: “Đồng thời thiết bị hoàn toàn không ảnh hưởng đến thị lực ngoại vi tự nhiên”).
Sau khi được cấy ghép bằng kỹ thuật tạo bọng phẫu thuật tiêu chuẩn, người bệnh sẽ mang kính tích hợp camera thu nhận hình ảnh rồi chiếu trực tiếp lên mảnh ghép dưới dạng các xung ánh sáng cận hồng ngoại. Tín hiệu này sau đó được chuyển đổi thành các xung kích thích điện truyền tới các tế bào lưỡng cực còn nguyên vẹn để não bộ xử lý và nhận biết hình ảnh.
Theo BS. Muqit, tỷ lệ duy trì theo dõi ở mốc 36 tháng đạt mức “good” (tạm dịch: “khả quan”), xét trong bối cảnh nhóm dân số nghiên cứu luôn có “a natural attrition rate” (tạm dịch: “tỷ lệ hao hụt tự nhiên”) do các biến cố bệnh lý phối hợp hoặc tử vong; có 27 người bệnh (71%) hoàn thành mốc thời gian này trong thử nghiệm.
Mức cải thiện thị lực có ý nghĩa lâm sàng ghi nhận tại thời điểm 12 tháng tiếp tục được duy trì ở toàn bộ bệnh nhân đến mốc 36 tháng. Cụ thể, thị lực cải thiện đáng kể với mức giảm trung bình 0,58 logMAR so với ban đầu trên bảng đo thị lực ETDRS, trong đó 78% bệnh nhân đạt mức cải thiện từ 0,2 logMAR trở lên.
Khi đối chiếu với thị lực tự nhiên không sử dụng kính PRIMA, thông số này duy trì ở mức ổn định theo thời gian ở 25 bệnh nhân trong nhóm.
Đánh giá về tính an toàn, BS. Muqit nhận định: “The long-term safety profile was favorable” (tạm dịch: “Hồ sơ an toàn dài hạn rất thuận lợi”), phần lớn biến chứng liên quan đến quá trình can thiệp phẫu thuật hơn là do bản thân thiết bị và chủ yếu xuất hiện trong vòng 6 tháng đầu.
Cụ thể, hơn 80% trong tổng số 29 biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) xảy ra trong 6 tháng đầu sau phẫu thuật. Trong giai đoạn từ tháng 12 đến tháng 24, chỉ ghi nhận 2 biến cố SAE gồm một ca xuất huyết dưới võng mạc và một ca bệnh dịch kính võng mạc tăng sinh. Từ tháng 24 đến tháng 36 chỉ xuất hiện thêm duy nhất 1 ca SAE là tân mạch hắc mạc không triệu chứng.
Chuyên gia kết luận: “The 36-month PRIMAvera results support durable and meaningful vision improvement with PRIMA, which is very important for patients” (tạm dịch: “Dữ liệu 36 tháng từ nghiên cứu PRIMAvera chứng minh khả năng cải thiện thị lực bền vững và có ý nghĩa thực tiễn của PRIMA, điều mang lại giá trị rất lớn cho người bệnh”) và khẳng định thêm “it is safe and tolerable in patients with GA” (tạm dịch: “thiết bị an toàn và dung nạp tốt trên bệnh nhân teo bản đồ”).