Sinh lý bệnh và diễn tiến tự nhiên của hở van hai lá mạn tính

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Phân loại hở van hai lá (MR) – Hở van hai lá được phân loại như sau (xem chi tiết tại mục ‘Các phân loại hở van hai lá’ phía trên):

  • Hở van hai lá nguyên phát: Do bất thường tại một hoặc nhiều thành phần của bộ máy van hai lá (lá van, dây chằng và/hoặc cơ nhú).
  • Hở van hai lá thứ phát (hay còn gọi là hở van chức năng):
    • Hở van hai lá chức năng do thất (VFMR): Do quá trình tái cấu trúc và rối loạn chức năng thất trái (LV) theo vùng hoặc toàn bộ.
    • Hở van hai lá chức năng do nhĩ (AFMR): Xuất hiện trong bối cảnh giãn nhĩ trái, giãn vòng van hai lá và thay đổi động lực học, trong khi kích thước và chức năng tâm thu thất trái vẫn được bảo tồn. AFMR thường gặp nhất trong rung nhĩ (AF) và/hoặc suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF).

Các thay đổi huyết động chính

Đáp ứng của tim với hở van hai lá – Hở van hai lá mạn tính gây ra tình trạng quá tải thể tích nghiêm trọng cho thất trái, dẫn đến một chuỗi các điều chỉnh bù trừ về cơ tim và tuần hoàn. Những điều chỉnh này thay đổi tùy theo diễn tiến kéo dài của bệnh lý. Nếu hở van hai lá nguyên phát mức độ nặng không được điều trị, cơ tim cuối cùng sẽ suy kiệt, thất trái mất bù và bệnh nhân xuất hiện các dấu hiệu suy tim (HF). (Xem chi tiết tại mục ‘Đáp ứng của tim với hở van hai lá’ phía trên.)

Hậu gánh trong hở van hai lá mạn tính – Trong hở van hai lá mạn tính, ứng suất thành tâm thu thất trái thường ở mức bình thường nhờ tác động đối kháng giữa sự giãn thất trái và phì đại cơ tim (duy trì tỷ lệ giữa độ dày thành và bán kính bình thường). Ứng suất thành tăng lên khi sự giãn thất trái không đi kèm với phì đại cơ tim tương xứng (làm giảm tỷ lệ độ dày thành trên bán kính). (Xem chi tiết tại mục ‘Thay đổi hậu gánh trong hở van hai lá mạn tính’ phía trên.)

Diễn tiến tự nhiên

Các giai đoạn của hở van hai lá – Kích thước và chức năng buồng thất trái được sử dụng để xác định các giai đoạn: bù, chuyển tiếp và mất bù ở bệnh nhân hở van hai lá mạn tính (bảng 2) 44-50. Các khái niệm này được đưa vào các giai đoạn mô tả lâm sàng về hở van hai lá (bảng 3 và bảng 4) nhằm định hướng quản lý bệnh nhân hở van hai lá nguyên phát và thứ phát mạn tính. (Xem chi tiết tại mục ‘Các pha và giai đoạn của hở van hai lá’ phía trên, cũng như các mục “Hở van hai lá nguyên phát mạn tính: Điều trị tổng quát”, “Hở van hai lá nguyên phát mạn tính: Chỉ định can thiệp”, “Hở van hai lá thứ phát mạn tính: Điều trị tổng quát và tiên lượng” và “Hở van hai lá thứ phát mạn tính: Can thiệp”.)

Hở van hai lá mạn tính giai đoạn bù – Thay đổi chính trong hở van hai lá mạn tính là sự giãn thất trái. Ở giai đoạn bù, khả năng co bóp, điều kiện tải và phân suất tống máu của thất trái vẫn nằm trong giới hạn bình thường; thể tích cuối tâm trương lớn giúp tăng thể tích nhát bóp tổng thể. Nhĩ trái giãn và có độ giãn nở tốt góp phần ngăn ngừa tăng áp lực tĩnh mạch phổi nặng. Trong giai đoạn bù này, hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng. (Xem chi tiết tại mục ‘Hở van hai lá nguyên phát mạn tính còn bù’ phía trên.)

Chuyển tiếp sang suy tim – Vì bệnh nhân có thể có hoặc không có triệu chứng trong quá trình chuyển từ giai đoạn bù sang mất bù, nên cần theo dõi sát các dấu hiệu mất bù, bao gồm đo định kỳ kích thước thất trái và chức năng tâm thu qua siêu âm tim. Giai đoạn mất bù đặc trưng bởi sự giãn thất trái tiến triển, tăng áp lực tâm trương thất trái và giảm phân suất tống máu. Những thay đổi này thường đi kèm với giãn nhĩ tiến triển, loạn nhịp nhĩ, tăng áp lực động mạch phổi, và cuối cùng là các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim (bảng 3 và bảng 4). (Xem chi tiết tại mục ‘Chuyển sang trạng thái mất bù’ phía trên, “Hở van hai lá nguyên phát mạn tính: Điều trị tổng quát”, mục ‘Theo dõi’ và “Hở van hai lá thứ phát mạn tính: Điều trị tổng quát và tiên lượng”, mục ‘Đánh giá và theo dõi’.)

Dấu hiệu thất trái mất bù – Những bệnh nhân xuất hiện một hoặc nhiều dấu hiệu mất bù của thất trái (đường kính cuối tâm trương thất trái >70 mm, đường kính cuối tâm thu thất trái >45 mm và giảm phân suất tống máu thất trái [LVEF]) có nguy cơ cao bị giãn thất trái kéo dài sau phẫu thuật, suy giảm chức năng thất trái sau mổ và kết quả lâm sàng kém hoặc không đạt tối ưu. (Xem chi tiết tại mục ‘Các dấu hiệu của thất mất bù’ phía trên.)

Chức năng thất trái sau can thiệp van hai lá

Hậu gánh sau phẫu thuật điều trị – Sau can thiệp điều trị van hai lá, việc tăng hậu gánh có thể góp phần làm giảm phân suất tống máu ở những bệnh nhân hở van hai lá giai đoạn mất bù, đặc biệt nếu không áp dụng các kỹ thuật bảo tồn dây chằng. Ở bệnh nhân hở van hai lá giai đoạn bù, hậu gánh có thể không tăng sau khi thay hoặc sửa van hai lá có bảo tồn dây chằng. (Xem chi tiết tại mục ‘Chức năng thất trái sau can thiệp van hai lá’ phía trên.)

Bảo tồn dây chằng van – Đối với bệnh nhân phẫu thuật van hai lá, việc bảo tồn các dây chằng van là một biện pháp quan trọng để duy trì chức năng tâm thu thất trái, như đã được thảo luận chi tiết. (Xem “Các thủ thuật phẫu thuật đối với hở van hai lá mạn tính nặng”, mục ‘Bảo tồn dây chằng’.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here