TÓM TẮT
Cơ sở thực hiện thủ thuật – Những phụ nữ trì hoãn việc sinh con có thể đối mặt với tình trạng vô sinh do tuổi tác khi họ thực sự có nguyện vọng mang thai. Vì vậy, bệnh nhân muốn hoãn sinh con nên cân nhắc các phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản có kế hoạch, bao gồm trữ đông phôi và noãn. (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.)
Ảnh hưởng của tuổi sinh học – Quá trình lão hóa sinh sản chủ yếu liên quan đến “tuổi” của noãn và ít chịu ảnh hưởng (hoặc không ảnh hưởng) bởi “tuổi” của tử cung. Sự suy giảm khả năng sinh sản ở nữ giới theo tuổi tác là hệ quả của việc giảm số lượng noãn dự trữ và suy giảm chất lượng noãn khi tuổi tăng dần. (Xem ‘Suy giảm khả năng sinh sản theo tuổi tác’ ở dưới.)
Tỷ lệ trẻ sinh sống – Tỷ lệ trẻ sinh sống được báo cáo dao động từ khoảng 25% đến trên 50% sau khi trữ đông phôi và noãn cho các chỉ định không vì lý do y khoa. Xác suất thành công giảm dần theo tuổi của bệnh nhân tại thời điểm chọc hút noãn. (Xem ‘Xác suất trẻ sinh sống’ ở dưới.)
Tiếp cận chung theo độ tuổi – Mặc dù kế hoạch lâm sàng được cá thể hóa cho từng bệnh nhân, các tác giả áp dụng hướng tiếp cận chung dựa trên độ tuổi của bệnh nhân như sau (xem ‘Tiếp cận theo nhóm tuổi’ ở dưới):
- Độ tuổi ≤ 30 – Chúng tôi tư vấn cho những bệnh nhân này rằng việc bảo tồn khả năng sinh sản có kế hoạch có thể ít hữu ích hơn ở độ tuổi dưới 30, vì có xác suất cao là noãn hoặc phôi trữ đông sẽ không bao giờ được sử dụng để mang thai. (Xem ‘Tiếp cận theo nhóm tuổi’ ở dưới.)
- Độ tuổi từ 30 đến 37 – Bệnh nhân trong nhóm tuổi này thường được coi là những ứng viên lý tưởng cho việc bảo tồn khả năng sinh sản có kế hoạch, vì họ có khả năng cao sở hữu noãn chất lượng tốt để trữ đông, đồng thời xác suất sử dụng trứng trữ đông cũng tương đối cao. (Xem ‘Độ tuổi lý tưởng’ ở dưới.)
- Độ tuổi từ 38 đến 45 – Những bệnh nhân lớn tuổi có dự trữ buồng trứng tốt có thể đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng và thu được đủ số lượng noãn để có cơ hội sinh con hợp lý trong tương lai. Tuy nhiên, cần tư vấn cho những bệnh nhân này về khả năng tăng cao việc đáp ứng kém với kích thích buồng trứng, tăng nguy cơ lệch bội do tuổi tác và tỷ lệ trẻ sinh sống thấp hơn so với bệnh nhân trẻ tuổi. (Xem ‘Tiếp cận theo nhóm tuổi’ ở dưới.)
- Độ tuổi ≥ 46 – Bệnh nhân từ 46 tuổi trở lên thường không phải là ứng viên cho việc bảo tồn khả năng sinh sản có kế hoạch do dự trữ buồng trứng suy giảm đáng kể. Việc sinh con thành công từ trữ đông noãn có kế hoạch sau 45 tuổi là khó xảy ra. (Xem ‘Độ tuổi tối đa để bảo tồn khả năng sinh sản’ ở dưới.)
Các lựa chọn bảo tồn khả năng sinh sản – Các phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản đã được thiết lập bao gồm trữ đông phôi và noãn. (Xem ‘Các lựa chọn bảo tồn khả năng sinh sản hiện nay’ ở dưới.)
- Trữ đông phôi là một kỹ thuật đã được khẳng định và sử dụng trong nhiều thập kỷ cùng với thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Yếu tố hạn chế chính là yêu cầu phải có tinh trùng, do đó phương pháp này chỉ áp dụng cho những bệnh nhân nữ có bạn đời nam cùng phối hợp hoặc những người muốn sử dụng tinh trùng hiến tặng. (Xem ‘Trữ đông phôi’ ở dưới.)
- Trữ đông noãn là phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản hiệu quả cho những bệnh nhân không có bạn đời nam cùng phối hợp, không muốn sử dụng tinh trùng hiến tặng hoặc không muốn tạo phôi. (Xem ‘Trữ đông noãn’ ở dưới.)
- Kết hợp trữ đông noãn và phôi – Một số chương trình hỗ trợ sinh sản cung cấp cho bệnh nhân lựa chọn trữ đông cả noãn và phôi (với bạn đời nam hoặc người hiến tinh trùng) trong cùng một chu kỳ IVF. Bệnh nhân có thể quyết định trong tương lai về việc sử dụng các phôi hiện có hay tạo phôi mới với bạn đời nam hoặc tinh trùng hiến tặng. (Xem ‘Kết hợp trữ đông noãn và phôi’ ở dưới.)
Rủi ro – Mặc dù sử dụng các phác đồ kích thích buồng trứng có kiểm soát, rủi ro chính của trữ đông noãn hoặc phôi là hội chứng quá kích buồng trứng. Các rủi ro liên quan đến chọc hút noãn bao gồm xuất huyết, đau và nhiễm trùng, mặc dù các biến chứng từ thủ thuật này nhìn chung là thấp. (Xem ‘Kích thích buồng trứng’ và ‘Rủi ro thủ thuật’ ở dưới.)
Kết cục sản khoa và trẻ em – Tuổi mẹ tăng cao vẫn là yếu tố chính dẫn đến các kết cục sản khoa bất lợi. Kết cục ở trẻ em sau trữ đông phôi và noãn cho thấy sự tương đồng với các công nghệ hỗ trợ sinh sản khác, tuy nhiên, dữ liệu về trữ đông phôi hiện nay phong phú hơn so với trữ đông noãn. (Xem ‘Kết cục sản khoa và trẻ em’ ở dưới.)
