Thoát vị hoành (thoát vị khe thực quản)

TÓM TẮT

  • Phân loại

    Thoát vị hoành là tình trạng các thành phần của khoang bụng thoát vị thông qua khe thực quản của cơ hoành. Thoát vị hoành được chia thành hai nhóm chính: thoát vị trượt và thoát vị cạnh thực quản (hình 1). (Xem ‘Phân loại’ ở dưới.)

  • Tuýp I (thoát vị trượt)

    Thoát vị hoành tuýp I (thoát vị trượt) đặc trưng bởi sự di lệch của vùng nối thực quản – dạ dày (EGJ) lên trên cơ hoành. Dạ dày vẫn giữ nguyên trục dọc bình thường và vùng đáy vị nằm dưới vùng nối EGJ.

  • Tuýp II, III và IV (thoát vị cạnh thực quản)

    Thoát vị hoành tuýp II, III và IV (thoát vị cạnh thực quản) đặc trưng bởi sự di lệch lên trên của vùng đáy vị.

  • Dịch tễ học

    Khoảng 95% các trường hợp thoát vị hoành là thoát vị trượt và 5% là thoát vị cạnh thực quản. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

  • Cơ chế bệnh sinh

    Mặc dù cơ chế bệnh sinh của hầu hết các trường hợp thoát vị hoành vẫn còn là giả thuyết, nhưng các yếu tố như thoái hóa theo tuổi tác, béo phì, chấn thương, dị tật bẩm sinh và các yếu tố do can thiệp y tế được cho là có liên quan. Thoát vị trượt là hậu quả của sự tổn thương tiến triển tại vùng nối EGJ, khiến một phần tâm vị thoát vị lên trên (hình 3). Thoát vị cạnh thực quản là một biến chứng đã được ghi nhận sau phẫu thuật bóc tách khe thực quản. (Xem ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)

  • Đặc điểm lâm sàng

    Thoát vị hoành tuýp I thường đi kèm với các triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD). Nhiều bệnh nhân thoát vị cạnh thực quản không có triệu chứng hoặc chỉ có các triệu chứng đường tiêu hoá trên không điển hình như đau hoặc đầy vùng thượng vị, buồn nôn hoặc nôn. Tuy nhiên, xoắn dạ dày có thể xảy ra trong các trường hợp thoát vị cạnh thực quản lớn, gây nuốt khó, đau sau ăn, thiếu máu cục bộ và hiếm khi gây nghẹt. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

  • Chẩn đoán

    Vì thoát vị hoành thường không có triệu chứng hoặc biểu hiện không điển hình, bệnh thường được chẩn đoán tình cờ qua nội soi thực quản – dạ dày, đo áp lực thực quản hoặc các chẩn đoán hình ảnh thực hiện vì mục đích khác. Thoát vị trượt có kích thước trục lớn hơn 2 cm có thể được chẩn đoán bằng chụp X-quang thực quản có cản quang (barium swallow), nội soi, chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc đo áp lực thực quản; trong khi các thoát vị trượt nhỏ hơn thường chỉ được phát hiện trong quá trình phẫu thuật.

    Chụp X-quang thực quản có cản quang là xét nghiệm nhạy nhất để phát hiện thoát vị cạnh thực quản tuýp II hoặc III. Trong thoát vị cạnh thực quản lớn, chụp CT hoặc cộng hưởng từ (MRI) ngực có thể phát hiện dạ dày nằm trong lồng ngực (hình 4 và hình 2). (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Điều trị

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here