Điều trị ban đầu xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch (ITP) ở người lớn

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Tổng quan – Mục tiêu điều trị là xử trí hoặc dự phòng xuất huyết nghiêm trọng, không phải là đưa số lượng tiểu cầu về mức bình thường. Mức độ nghiêm trọng của xuất huyết được định nghĩa trong bảng (bảng 1). Nguy cơ xuất huyết nặng hoặc nguy kịch là thấp; nguy cơ cao nhất ở những bệnh nhân có tiền sử xuất huyết, số lượng tiểu cầu < 10.000/µL và tuổi > 60. (Xem ‘Tổng quan về ra quyết định’ ở dưới.)

Xử trí

  • Xuất huyết nguy kịch hoặc nặng

    Đối với xuất huyết nguy kịch (tại vị trí giải phẫu quan trọng hoặc gây suy hô hấp, huyết động), chúng tôi chỉ định truyền tiểu cầu cho tất cả bệnh nhân (sơ đồ 1). Chúng tôi khuyến cáo phối hợp glucocorticoid (điển hình là dexamethasone liều xung) với globulin miễn dịch tĩnh mạch (IVIG) thay vì sử dụng đơn trị liệu (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Xuất huyết nguy kịch hoặc nặng’ và ‘Các liệu pháp nâng số lượng tiểu cầu’ ở dưới.)

    Đối với xuất huyết nặng (hemoglobin giảm ≥ 2 g/dL hoặc cần truyền ≥ 2 đơn vị máu nhưng không ở mức nguy kịch), chúng tôi khuyến cáo chỉ dùng glucocorticoid thay vì dùng IVIG đơn độc hoặc phối hợp glucocorticoid với IVIG (Khuyến cáo 2C). Một số bác sĩ có thể ưu tiên IVIG vì tác dụng nhanh hơn hoặc hồ sơ tác dụng phụ phù hợp hơn. (Xem ‘So sánh các liệu pháp’ và ‘Các liệu pháp cầm máu khác’ ở dưới.)

    Các liệu pháp cầm máu khác cũng có thể được cân nhắc áp dụng. (Xem ‘Các liệu pháp cầm máu khác’ ở dưới.)

  • Xuất huyết nhẹ và giảm tiểu cầu nặng

    Đối với xuất huyết nhẹ hoặc giảm tiểu cầu không kèm xuất huyết, ngưỡng điều trị được cá thể hóa (sơ đồ 2). (Xem ‘Xuất huyết nhẹ và giảm tiểu cầu nặng không kèm xuất huyết’ ở dưới.)

    Với hầu hết bệnh nhân xuất huyết nhẹ hoặc số lượng tiểu cầu < 20.000/µL (đặc biệt là < 10.000/µL), chúng tôi khuyến cáo nên điều trị thay vì theo dõi (Khuyến cáo 2C).

    Việc điều trị ở mức tiểu cầu cao hơn có thể hợp lý nếu bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết cao hơn hoặc cần dùng thuốc chống đông. Theo dõi có thể là lựa chọn hợp lý cho những người trẻ tuổi, không có triệu chứng và có số lượng tiểu cầu thấp.

Thai kỳ – (Xem “Giảm tiểu cầu trong thai kỳ”, phần ‘Liệu pháp điều trị ITP’.)

Phẫu thuật hoặc sinh con – Đối với các thủ thuật xâm lấn, ngưỡng số lượng tiểu cầu do bác sĩ can thiệp quyết định. Điều trị có thể bao gồm truyền tiểu cầu (đặc biệt đối với các thủ thuật khẩn cấp có nguy cơ xuất huyết đáng kể), dùng glucocorticoid và/hoặc IVIG, hoặc sử dụng thuốc kích thích thụ thể thrombopoietin (TPO-RA) vào thời điểm thích hợp. (Xem ‘Phẫu thuật hoặc sinh con’ ở dưới, mục “Liệu pháp bước hai và các liệu pháp tiếp theo cho bệnh giảm tiểu cầu miễn dịch (ITP) ở người trưởng thành”, phần ‘Thuốc kích thích thụ thể TPO’ và mục “Truyền tiểu cầu: Chỉ định, chỉ định truyền và các nguy cơ liên quan”, phần ‘Chuẩn bị cho thủ thuật xâm lấn’.)

Glucocorticoid – Việc lựa chọn glucocorticoid được cá thể hóa. (Xem ‘Lựa chọn glucocorticoid và liều dùng’ ở dưới.)

  • Dexamethasone liều xung mang lại đáp ứng nhanh hơn và giảm số lần xuất huyết. Liều điển hình là 40 mg uống hoặc tiêm tĩnh mạch một lần mỗi ngày trong 4 ngày (không giảm liều).
  • Methylprednisolone liều xung thường được dùng 1 g tiêm tĩnh mạch một lần mỗi ngày trong 3 ngày (không giảm liều).
  • Liều prednisone là 1 mg/kg (dao động từ 0,5 đến 2 mg/kg) uống một lần mỗi ngày trong 1 đến 2 tuần, sau đó giảm liều dần (thường trong < 6 tuần).

Globulin miễn dịch – Liều IVIG điển hình là 1 g/kg mỗi ngày trong 1 hoặc 2 ngày; thông thường một liều là đủ. Anti-D là một lựa chọn thay thế. (Xem ‘Liều dùng và cách dùng IVIG’ và ‘Anti-D như một lựa chọn thay thế IVIG’ ở dưới.)

Theo dõi – Bảng tóm tắt thời gian đáp ứng của các liệu pháp (bảng 2). Tất cả bệnh nhân nên được theo dõi thường xuyên và được khuyên tham khảo ý kiến bác sĩ khi có xuất huyết. (Xem ‘Theo dõi lâm sàng’ ở dưới.)

Bệnh nhân ITP đang hoạt động nên được theo dõi số lượng tiểu cầu trước và sau khi tiêm vaccine COVID-19; lợi ích của việc tiêm vaccine vượt trội hơn nguy cơ làm trầm trọng thêm bệnh ở đa số bệnh nhân. (Xem ‘Tiêm vaccine COVID-19’ ở dưới.)

Xét nghiệm bổ sung – Chúng tôi chỉ định xét nghiệm HIV và viêm gan C cho tất cả bệnh nhân ITP. Việc xét nghiệm lupus ban đỏ hệ thống (SLE), rối loạn tăng sinh lympho, rối loạn miễn dịch và Helicobacter pylori được cá thể hóa. (Xem ‘Đánh giá ITP thứ phát’ và ‘Xét nghiệm H. pylori’ ở dưới.)

Các yếu tố khác góp phần tăng nguy cơ xuất huyết – Cần cân nhắc thêm khi bệnh nhân đang hóa trị hoặc điều trị chống huyết khối. Cần thận trọng với các hoạt động thể chất và uống rượu bia. (Xem ‘Các cân nhắc khác liên quan đến nguy cơ xuất huyết’ ở dưới.)

Diễn tiến bệnh – Hầu hết người trưởng thành mắc ITP sẽ đạt được mức tiểu cầu an toàn, nhưng nhiều người sẽ cần các liệu pháp điều trị bổ sung. (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới và mục “Liệu pháp bước hai và các liệu pháp tiếp theo cho bệnh giảm tiểu cầu miễn dịch (ITP) ở người trưởng thành”.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here