Đánh giá và chẩn đoán tăng huyết áp ở trẻ nhũ nhi từ 1 tháng đến 1 tuổi

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Định nghĩa ‒ Tương tự như ở trẻ lớn, tăng huyết áp ở trẻ nhũ nhi được định nghĩa khi huyết áp tâm thu hoặc tâm trương ≥ bách phân vị thứ 95 theo giá trị chuẩn, được ghi nhận trong ít nhất 3 lần đo riêng biệt. Tuy nhiên, tăng huyết áp ít gặp ở trẻ nhũ nhi, và việc đo huyết áp thường quy không được thực hiện ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ sau giai đoạn sơ sinh. Do đó, thông tin về huyết áp chuẩn ở trẻ dưới một tuổi còn hạn chế. Các tài liệu hiện nay gợi ý rằng có thể sử dụng dữ liệu chuẩn của trẻ một tuổi để hướng dẫn quản lý huyết áp cho trẻ nhũ nhi nhỏ hơn. (Xem thêm ‘Huyết áp chuẩn’ và ‘Định nghĩa’ ở dưới.)

Nguyên nhân ‒ Các nguyên nhân gây tăng huyết áp ở trẻ từ một tháng đến một tuổi tương tự như tăng huyết áp sơ sinh. Ngoài ra, nhiều trẻ tăng huyết áp do các biến chứng thời kỳ sơ sinh như: loạn sản phế quản phổi, tổn thương mạch máu thận do đặt catheter động mạch rốn, huyết khối tĩnh mạch thận và các di chứng thần kinh (ví dụ: xuất huyết não thất). Các nguyên nhân khác bao gồm bất thường bẩm sinh thận và đường tiết niệu (CAKUT), rối loạn nội tiết (ví dụ: tăng sản thượng thận bẩm sinh và cường giáp), do thuốc và hẹp eo động mạch chủ. (Xem thêm ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)

Chỉ định đo huyết áp ‒ Vì tỷ lệ tăng huyết áp ở trẻ dưới 3 tuổi là thấp, việc theo dõi huyết áp thường quy không được khuyến cáo trừ khi trẻ có yếu tố nguy cơ. Các đối tượng nhũ nhi có nguy cơ tăng huyết áp bao gồm trẻ có các biến chứng cần nhập khoa hồi sức sơ sinh (NICU), bệnh tim bẩm sinh, CAKUT và các bệnh lý hoặc tình trạng khác liên quan đến tăng huyết áp. (Xem thêm ‘Khi nào cần đo huyết áp’ ở dưới.)

Kỹ thuật đo huyết áp ‒ Việc đo huyết áp ở trẻ nhũ nhi cần được thực hiện theo quy trình chuẩn hóa: đo cùng một chi và cùng một tư thế, sử dụng băng quấn huyết áp có kích thước phù hợp khi trẻ đang ngủ hoặc đang thức trong trạng thái yên tĩnh. (Xem thêm ‘Đo huyết áp’ ở dưới.)

Chẩn đoán ‒ Chẩn đoán tăng huyết áp thường được thực hiện bằng cách so sánh huyết áp với các giá trị chuẩn. Tuy nhiên, việc chẩn đoán ở trẻ nhũ nhi gặp nhiều thách thức do thiếu dữ liệu chuẩn tin cậy và việc đo huyết áp không được thực hiện thường quy ở trẻ khỏe mạnh. Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi đo huyết áp cho những trẻ có nguy cơ tăng huyết áp và chẩn đoán tăng huyết áp khi kết quả đo 3 lần riêng biệt vượt bách phân vị thứ 95 của trẻ một tuổi. Ngoài ra, chẩn đoán tăng huyết áp có thể được đưa ra với số lần đo ít hơn đối với những trẻ có huyết áp tăng cao rõ rệt hoặc có thêm các yếu tố nguy cơ. Chúng tôi áp dụng ngưỡng huyết áp dựa trên các dữ liệu hiện có như sau: (Xem thêm ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

  • Đối với trẻ nhũ nhi có huyết áp đo bằng máy đo dao động (oscillometric) khi thức >100/60 mmHg: cần xác nhận lại bằng phương pháp đo thủ công và theo dõi bằng đo huyết áp thủ công trong các lần tái khám.
  • Việc đánh giá tìm nguyên nhân cơ bản được bắt đầu khi huyết áp đo thủ công xác nhận >110/70 mmHg.
  • Điều trị thường được khởi đầu khi huyết áp đo thủ công kéo dài ≥110/70 mmHg, hoặc sớm hơn nếu bệnh nhân có triệu chứng hoặc có phì đại thất trái.

Đánh giá ‒ Khi đã xác định trẻ tăng huyết áp, cần tiến hành đánh giá để tìm nguyên nhân, điều trị các nguyên nhân có thể chữa khỏi và xác định mức độ tổn thương cơ quan đích. Vì nguyên nhân tăng huyết áp ở nhóm tuổi này thường do các sự kiện chu sinh, quy trình đánh giá tương tự như đối với tăng huyết áp sơ sinh. (Xem thêm ‘Đánh giá’, ‘Nguyên nhân’ ở dưới và phần ‘Đánh giá’ trong “Tăng huyết áp sơ sinh: Nguyên nhân, đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here