TÓM TẮT
Dịch tễ học và vi sinh vật học – Nhiễm trùng huyết là một nguyên nhân quan trọng gây bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh.
- Tỷ lệ mắc – Tỷ lệ nhiễm trùng huyết do vi khuẩn ở trẻ sơ sinh đủ tháng là khoảng 1 đến 2 ca trên 1000 trẻ sinh sống; tỷ lệ này cao hơn một chút ở trẻ sinh non muộn (khoảng 4 đến 5 ca trên 1000 trẻ sinh). (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
- Các tác nhân gây bệnh thường gặp – Liên cầu khuẩn nhóm B (GBS) và Escherichia coli là những vi khuẩn phổ biến nhất gây nhiễm trùng huyết ở trẻ sơ sinh đủ tháng. Các tác nhân gây bệnh khác được tổng hợp trong bảng (bảng 1). (Xem ‘Vi sinh vật học’ ở dưới.)
- Yếu tố nguy cơ từ mẹ – Các yếu tố nguy cơ từ mẹ dẫn đến nhiễm trùng huyết khởi phát sớm ở trẻ sơ sinh bao gồm: nhiễm trùng ối, sốt trong khi sinh, sinh non, mẹ nhiễm GBS và vỡ ối kéo dài. (Xem thêm mục “Phòng ngừa bệnh do liên cầu khuẩn nhóm B khởi phát sớm ở trẻ sơ sinh”, phần ‘Xác định các thai kỳ có nguy cơ cao mắc GBS khởi phát sớm ở trẻ sơ sinh’.)
Biểu hiện lâm sàng – Các biểu hiện lâm sàng thường không điển hình, bao gồm (bảng 2) (xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới):
- Suy thai
- Rối loạn thân nhiệt (sốt hoặc hạ thân nhiệt)
- Các triệu chứng hô hấp và tuần hoàn (phổ biến nhất là suy hô hấp và nhịp tim nhanh)
- Các triệu chứng thần kinh (kích thích, lờ đờ, giảm trương lực cơ và co giật)
- Bất thường tiêu hóa (bú kém, nôn và chướng bụng)
Đánh giá nghi ngờ nhiễm trùng huyết khởi phát sớm (EOS) – Việc đánh giá trẻ sơ sinh nghi ngờ nhiễm trùng huyết trong vòng 72 giờ đầu sau sinh bao gồm: xem xét tiền sử mang thai, quá trình chuyển dạ và sinh con; khám lâm sàng; và đánh giá cận lâm sàng dựa trên các dấu hiệu, triệu chứng của trẻ (nếu có) và các yếu tố nguy cơ từ mẹ (xem ‘Biểu hiện khởi phát sớm’ ở dưới):
- Trẻ sơ sinh có triệu chứng – Trẻ có dấu hiệu lâm sàng của EOS (bảng 2) cần được đánh giá chẩn đoán toàn diện và điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm như tóm tắt trong bảng (bảng 5) và được thảo luận chi tiết ở phần riêng. (Xem thêm mục “Nhiễm trùng huyết do vi khuẩn ở trẻ sơ sinh: Xử trí, phòng ngừa và tiên lượng”, phần ‘Nhiễm trùng huyết khởi phát sớm’.)
- Cấy máu (xem ‘Cấy máu’ ở dưới)
- Chọc dò thắt lưng (LP) nếu trẻ có vẻ trạng thái nặng hoặc có các dấu hiệu đáng lo ngại khác (kích thích, thóp phồng, co giật) (xem ‘Chọc dò thắt lưng’ ở dưới)
- X-quang ngực nếu có các dấu hiệu về hô hấp
- Trẻ sơ sinh trông khỏe mạnh – Cách tiếp cận đánh giá những trẻ sơ sinh trông khỏe mạnh nhưng có các yếu tố nguy cơ của EOS được thảo luận trong một mục riêng. (Xem “Tiếp cận đánh giá nguy cơ và xử trí ban đầu cho trẻ sơ sinh có yếu tố nguy cơ nhiễm trùng huyết khởi phát sớm”.)
Đánh giá nghi ngờ nhiễm trùng huyết khởi phát muộn (LOS) – Trẻ sơ sinh có dấu hiệu lâm sàng của nhiễm trùng huyết từ 72 giờ sau sinh trở đi cần được đánh giá chẩn đoán toàn diện và điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm như tóm tắt trong bảng (bảng 5) và được thảo luận chi tiết ở phần riêng. (Xem thêm mục “Nhiễm trùng huyết do vi khuẩn ở trẻ sơ sinh: Xử trí, phòng ngừa và tiên lượng”, phần ‘Nhiễm trùng huyết khởi phát sớm’.)
Đánh giá LOS cần bao gồm tất cả các xét nghiệm sau (xem ‘Biểu hiện khởi phát muộn’ ở dưới):
- Cấy máu (xem ‘Cấy máu’ ở dưới)
- Chọc dò thắt lưng (LP) (với điều kiện trẻ đủ ổn định để thực hiện thủ thuật và việc này không làm chậm trễ quá trình điều trị kháng sinh) (xem ‘Chọc dò thắt lưng’ ở dưới)
- X-quang ngực (nếu có triệu chứng hô hấp)
- Cấy nước tiểu (xem ‘Cấy nước tiểu’ ở dưới)
- Cấy bệnh phẩm từ bất kỳ ổ nhiễm trùng tiềm tàng nào khác (ví dụ: dịch hút khí quản nếu trẻ đặt nội khí quản, mủ tiết từ mắt hoặc các nốt mụn mủ) (xem ‘Các loại cấy khác’ ở dưới)
Trẻ sơ sinh dưới 28 ngày tuổi đến khám ngoại trú hoặc cấp cứu vì sốt hoặc các dấu hiệu đáng lo ngại khác có thể cần đánh giá thêm các nguyên nhân không do vi khuẩn. Cách tiếp cận này được thảo luận trong các chủ đề riêng. (Xem “Tiếp cận trẻ sơ sinh có trạng thái nặng (dưới 90 ngày tuổi)” và “Trẻ sơ sinh sốt (từ 28 ngày tuổi trở xuống): Đánh giá ngoại trú”.)
Chẩn đoán – Việc phân lập được tác nhân gây bệnh từ cấy máu giúp xác nhận chẩn đoán nhiễm trùng huyết sơ sinh. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt của nhiễm trùng huyết sơ sinh bao gồm các tình trạng nhiễm trùng hệ thống khác và các bệnh lý không do nhiễm trùng như: bệnh hô hấp (ví dụ: thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh và hội chứng suy hô hấp), bệnh tim (ví dụ: tim bẩm sinh và nhịp nhanh trên thất), tổn thương thần kinh (ví dụ: do thiếu oxy hoặc xuất huyết), rối loạn chuyển hóa bẩm sinh và hội chứng cai thuốc ở trẻ sơ sinh (bảng 6). (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)