TÓM TẮT
Định nghĩa
- Giật cơ thứ phát sau một rối loạn thần kinh hoặc bệnh lý hệ thống theo truyền thống được gọi là “giật cơ triệu chứng” (symptomatic myoclonus). Giật cơ triệu chứng là loại giật cơ phổ biến nhất và có thể liên quan đến nhiều tình trạng trải dài trên toàn bộ các bệnh lý thần kinh (bảng 1).
Dịch tễ học
- Tình trạng sau thiếu oxy não, bệnh lý thoái hóa thần kinh và các hội chứng động kinh là những nguyên nhân phổ biến nhất. Các nguyên nhân do độc chất – chuyển hóa và do thuốc đặc biệt thường gặp trong môi trường bệnh viện (thuật toán 1). (Xem ‘Thuật ngữ và dịch tễ học’ ở dưới.)
Nguyên nhân
- Giật cơ triệu chứng có liên quan đến các nhóm bệnh lý rộng sau đây (bảng 2):
- Động kinh giật cơ tiến triển (PME) và thất điều giật cơ tiến triển (PMA) (xem ‘Động kinh giật cơ tiến triển và thất điều giật cơ tiến triển’ ở dưới)
- Các bệnh lý rối loạn chuyển hóa tích trữ (xem ‘Các bệnh lý rối loạn chuyển hóa tích trữ’ ở dưới)
- Các bệnh lý thoái hóa thần kinh (xem ‘Các bệnh lý thoái hóa thần kinh’ ở dưới)
- Các rối loạn viêm nhiễm, sau nhiễm trùng và tự miễn (xem ‘Các rối loạn viêm nhiễm, sau nhiễm trùng và tự miễn’ ở dưới)
- Các rối loạn chuyển hóa (xem ‘Các rối loạn chuyển hóa’ ở dưới)
- Các hội chứng do thuốc và độc chất (xem ‘Các hội chứng do thuốc và độc chất’ ở dưới)
- Bệnh lý não (xem ‘Bệnh lý não’ ở dưới)
- Tổn thương thần kinh khu trú (xem ‘Tổn thương thần kinh khu trú’ ở dưới)
- Các rối loạn ảnh hưởng đến nhiều hệ thống (xem ‘Các rối loạn ảnh hưởng đến nhiều hệ thống’ ở dưới)
Các hội chứng chồng lấp
- Các hội chứng chồng lấp với giật cơ bao gồm hội chứng giật mình quá mức và các triệu chứng thần kinh chức năng. (Xem ‘Các hội chứng chồng lấp với giật cơ’ ở dưới.)
Đánh giá
- Việc đánh giá bệnh nhân giật cơ (bảng 3) sẽ được trình bày chi tiết trong một phần riêng biệt. (Xem “Phân loại và đánh giá giật cơ”, phần ‘Đánh giá’.)
