Nhiễm khuẩn do nhóm Streptococcus anginosus (Streptococcus milleri)

TÓM TẮT

Vi sinh vật học

Nhóm Streptococcus anginosus (còn được gọi là nhóm Streptococcus milleri) là một phân nhóm của liên cầu khuẩn viridans, bao gồm ba loài liên cầu riêng biệt: Streptococcus anginosus, Streptococcus intermedius, và Streptococcus constellatus. (Xem ‘Vi sinh vật học’ ở dưới.)

Vị trí và mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng lâm sàng

Nhóm S. anginosus là một phần của hệ vi khuẩn bình thường ở người, cư trú tại khẩu hầu, đường tiêu hóa và âm đạo. Nhiễm trùng có mức độ nghiêm trọng khác nhau và xảy ra ở nhiều vị trí, bao gồm da/mô mềm, khẩu hầu, ổ bụng, não và đường hô hấp. Nhóm S. anginosus cũng thường gây ra các ổ áp xe đa khuẩn khu trú, đôi khi có biểu hiện lâm sàng kín đáo. (Xem ‘Vị trí nhiễm trùng lâm sàng’ ở dưới.)

Đánh giá chẩn đoán

Khi nào cần nghi ngờ các vi khuẩn thuộc nhóm S. anginosus

Mặc dù không thể phân biệt lâm sàng các vi khuẩn thuộc nhóm S. anginosus với các tác nhân gây bệnh khác có hội chứng nhiễm trùng tương tự, nhưng sự hiện diện của ổ áp xe (đặc biệt là ở vùng đầu/cổ hoặc ổ bụng) nên làm tăng sự nghi ngờ đối với nhiễm trùng S. anginosus. (Xem ‘Khi nào cần nghi ngờ S. anginosus’ ở dưới.)

Chẩn đoán vi sinh

Khi các thành viên của nhóm S. anginosus được phân lập từ máu, dịch chọc hút áp xe qua da hoặc các vị trí vô khuẩn khác, chúng thường được xem là tác nhân gây bệnh thực sự. Việc phân lập các vi sinh vật này từ vết thương hoặc nước tiểu có thể là dấu hiệu của tình trạng nhiễm trùng hoặc sự cư trú, cần được diễn giải dựa trên bối cảnh lâm sàng của bệnh nhân. Nên thực hiện thêm cấy vi khuẩn kỵ khí do tỷ lệ đồng nhiễm các vi khuẩn kỵ khí khá cao. (Xem ‘Thiết lập chẩn đoán’ ở dưới.)

Đánh giá áp xe

Khi xét nghiệm vi sinh xác định sự hiện diện của các vi khuẩn thuộc nhóm S. anginosus, cần tiến hành đánh giá thêm để tìm các ổ áp xe, cả ở vị trí xa và gần nguồn nhiễm trùng. (Xem ‘Đánh giá áp xe’ ở dưới.)

Xử trí

Điều trị nhiễm trùng do nhóm S. anginosus bao gồm dẫn lưu/cắt lọc áp xe (nếu có thể) và liệu pháp kháng sinh. (Xem ‘Xử trí’ ở dưới.)

Liệu pháp kháng sinh

Nhóm S. anginosus nhạy cảm với tất cả các kháng sinh nhóm beta-lactam; chúng tôi đề xuất kết hợp liệu pháp kháng vi khuẩn kỵ khí vào phác đồ điều trị nhiễm trùng nhóm S. anginosus vì tình trạng đồng nhiễm vi khuẩn kỵ khí rất phổ biến (Khuyến cáo 2C) (bảng 1). Một ngoại lệ là trường hợp nhiễm khuẩn huyết hoặc viêm nội tâm mạc đơn độc mà không tìm thấy ổ áp xe sau khi đã đánh giá kỹ lưỡng bằng các chẩn đoán hình ảnh cắt lớp (ví dụ: chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ); những trường hợp nhiễm trùng này thường là đơn khuẩn và không nhất thiết phải dùng liệu pháp kháng vi khuẩn kỵ khí. (Xem ‘Lựa chọn kháng sinh’ ở dưới.)

Các phác đồ truyền tĩnh mạch ban đầu được ưu tiên bao gồm ceftriaxone, penicillin G, hoặc ampicillin-sulbactam. Các phác đồ chuyển đổi sang đường uống bao gồm amoxicillin-clavulanate đơn trị liệu hoặc kết hợp cephalosporin thế hệ hai hoặc thế hệ ba với metronidazole (bảng 2). (Xem ‘Phác đồ truyền tĩnh mạch ban đầu’ và ‘Phác đồ chuyển đổi sang đường uống cho một số trường hợp chọn lọc’ ở dưới.)

Thời gian dùng kháng sinh

Thời gian điều trị được quyết định dựa trên vị trí nhiễm trùng và khả năng kiểm soát nguồn nhiễm. (Xem ‘Thời gian điều trị’ ở dưới.)

Xử trí áp xe

Tất cả các ổ áp xe có thể dẫn lưu được nên được dẫn lưu qua da. Nếu không thể dẫn lưu hoàn toàn qua da và tình trạng không cải thiện sau khi dùng liệu pháp kháng sinh thích hợp, cần tiến hành cắt lọc phẫu thuật kịp thời nhằm giảm thiểu tỷ lệ bệnh tật và tử vong. (Xem ‘Xử trí áp xe’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here