TÓM TẮT
- Viêm phổi bệnh viện (HAP): Pseudomonas aeruginosa là một nguyên nhân phổ biến gây viêm phổi bệnh viện gram âm. Tác nhân này có thể xâm nhập qua đường hít sặc hệ vi khuẩn thường trú ở miệng, hít phải vi khuẩn từ ống thở của máy thở hoặc các thiết bị y tế bị nhiễm khuẩn khác, hoặc thông qua đường máu. (Xem “Viêm phổi bệnh viện” bên dưới).
- Viêm phổi cộng đồng: Viêm phổi cộng đồng do P. aeruginosa chủ yếu xảy ra ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch (ví dụ: người nhiễm HIV, người nhận tạng đặc hoặc tế bào gốc, hoặc người bị giảm bạch cầu hạt), người có tiền sử dùng kháng sinh gần đây, và người có tổn thương cấu trúc phổi như xơ nang, giãn phế quản, hoặc đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) tái phát phải dùng thường xuyên glucocorticoid và/hoặc kháng sinh. (Xem “Viêm phổi cộng đồng” bên dưới).
- Biểu hiện lâm sàng: Viêm phổi do P. aeruginosa thường đặc trưng bởi các triệu chứng ho đờm mủ, khó thở, sốt, ớn lạnh, lú lẫn và nhiễm độc hệ thống nặng. Không có triệu chứng nào trong số này đủ rạch ròi để phân biệt hoàn toàn nhiễm trùng này với viêm phổi do các vi khuẩn sinh mủ khác hoặc Legionella. Các đặc điểm trên hình ảnh học rất đa dạng và không có dấu hiệu đơn lẻ nào mang tính tiên đoán hoặc đặc hiệu cho viêm phổi do P. aeruginosa. (Xem “Đặc điểm lâm sàng” bên dưới).
- Chẩn đoán: Chẩn đoán viêm phổi do P. aeruginosa được xác định khi nuôi cấy phân lập được P. aeruginosa từ đờm khạc, bệnh phẩm lấy qua nội soi phế quản, hoặc các bệnh phẩm đường hô hấp khác ở bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng và hình ảnh học phù hợp với viêm phổi. (Xem “Chẩn đoán” bên dưới và “Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, vi sinh vật học và chẩn đoán viêm phổi bệnh viện và viêm phổi liên quan đến thở máy ở người lớn”).
- Lựa chọn kháng sinh theo kinh nghiệm: Cho đến khi có kết quả kháng sinh đồ, các trường hợp nghi ngờ viêm phổi do P. aeruginosa có thể được điều trị theo kinh nghiệm bằng một loại kháng sinh đơn độc, trừ khi bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng huyết hoặc có các yếu tố nguy cơ nhiễm vi khuẩn kháng thuốc. Trong trường hợp đó, chúng tôi sử dụng hai loại kháng sinh thuộc các nhóm khác nhau mà vi khuẩn phân lập được có độ nhạy cảm cao (bảng 1). Cơ sở lý luận của việc dùng liệu pháp kết hợp so với đơn trị liệu được bàn luận ở các phần khác. (Xem “Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm” bên dưới và “Nguyên tắc điều trị kháng sinh các nhiễm trùng do Pseudomonas aeruginosa”, mục ‘Quản lý các vi sinh vật kháng đa thuốc’).
- Kháng sinh đích: Khi đã có kết quả kháng sinh đồ, chúng tôi đề xuất sử dụng một loại kháng sinh đơn độc có tác dụng để điều trị đích đối với các trường hợp nhạy cảm thay vì dùng liệu pháp kết hợp (Khuyến cáo 2B). Những bệnh nhân không có bệnh lý đồng mắc đáng kể, hết sốt và cải thiện lâm sàng trong tuần đầu điều trị, cũng như những người nhiễm chủng P. aeruginosa nhạy cảm, có thể được điều trị với liệu trình ngắn từ 7 đến 10 ngày. Thời gian điều trị kéo dài hơn (ví dụ: từ 10 đến 21 ngày) có thể cần thiết cho các đối tượng bệnh nhân khác. (Xem “Điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ” bên dưới).
- Quản lý tình trạng kháng đa thuốc: Các trường hợp nhiễm P. aeruginosa kháng đa thuốc (MDR) nên được quản lý với sự hỗ trợ của chuyên gia về điều trị các bệnh lý nhiễm trùng này. Các thuốc thay thế như colistin có thể cần thiết. Các chiến lược khả thi khác đối với nhiễm trùng kháng thuốc bao gồm việc sử dụng kháng sinh dạng hít, phác đồ kết hợp và các chiến lược hiệu chỉnh liều thay thế. (Xem “Kháng sinh dạng hít cho các bệnh nhân được lựa chọn” bên dưới và “Nguyên tắc điều trị kháng sinh các nhiễm trùng do Pseudomonas aeruginosa”, mục ‘Quản lý các vi sinh vật kháng đa thuốc’).
- Tiên lượng: Viêm phổi do P. aeruginosa có liên quan đến tỷ lệ tử vong nội viện cao và thời gian nằm viện kéo dài. (Xem “Kết quả điều trị và tiên lượng” bên dưới).
