TÓM TẮT
Tổng quan – Loạn sản khung xương là một nhóm bệnh lý đa dạng, bao gồm các rối loạn trong quá trình phát triển của một số phân đoạn xương và sụn, gây ảnh hưởng đến chiều dài, hình dạng và quá trình khoáng hóa xương. Kiểu hình lâm sàng thay đổi từ bất thường nhẹ đến nặng. Một số ít các thể loạn sản khung xương có tiên lượng tử vong (ví dụ: loạn sản gây tử vong [TD], xương ngà loại 2, bất sản sụn) do thiểu sản phổi dẫn đến suy hô hấp và tử vong ngay sau sinh. (Xem thêm ‘Giới thiệu’, ‘Phân loại’ và ‘Tỷ lệ lưu hành’ ở dưới.)
Nhận diện
Thời điểm nghi ngờ loạn sản khung xương – Cần nghi ngờ loạn sản khung xương ở thai nhi có xương đùi ngắn (dưới bách phân vị thứ 5 theo tuổi thai, hoặc ít phổ biến hơn là dưới hai độ lệch chuẩn [SD] so với giá trị trung bình theo tuổi thai) hoặc có các bất thường định tính về xương (ví dụ: cong, uốn, gập góc, gãy xương) trong quá trình khảo sát hình thái học định kỳ từ tuần thứ 18 đến 22 của thai kỳ. Chẩn đoán có thể được nghi ngờ ngay từ tam cá nguyệt thứ nhất, đặc biệt nếu đó là thể gây tử vong. Các trường hợp loạn sản khung xương chỉ được phát hiện trong tam cá nguyệt thứ ba thường ít có nguy cơ tử vong hơn, nhưng có thể gây ra những di chứng nặng nề cho cuộc sống.
Các thai kỳ nghi ngờ loạn sản khung xương cần được chuyển ngay đến trung tâm y tế chuyên sâu để đánh giá chuyên biệt về thai nhi (bảng 1 và bảng 2). (Xem thêm ‘Khi nào nghi ngờ loạn sản khung xương’, ‘Chẩn đoán phân biệt các nguyên nhân gây ngắn xương đùi nhẹ’ và ‘Đánh giá chẩn đoán khi nghi ngờ loạn sản khung xương’ ở dưới.)
Chẩn đoán trước sinh – Chẩn đoán trước sinh loạn sản khung xương dựa trên hình ảnh đặc trưng của khung xương thai nhi trên chẩn đoán hình ảnh: ngắn chi và/hoặc cột sống kèm theo một loạt các bất thường về xương (ví dụ: thiếu xương, giảm khoáng hóa, gãy xương, cong bất thường, hình dạng bất thường, gập góc khớp bất thường, xòe hành xương), các bất thường này có thể xuất hiện ở vùng mặt, bàn tay/bàn chân, vòm sọ, xương sườn và xương bả vai. Chụp cộng hưởng từ (MRI), cắt lớp vi tính (CT) hoặc X-quang có thể được sử dụng để hỗ trợ chẩn đoán sơ bộ từ siêu âm. (Xem ‘Chẩn đoán trước sinh’ ở dưới.)
Một thể loạn sản khung xương cụ thể có thể được nghi ngờ dựa trên tiền sử gia đình hoặc tổ hợp các dấu hiệu hình ảnh.
Tiên lượng – Mục tiêu trước sinh trước hết là xác định tình trạng loạn sản là thể gây tử vong (life-limiting) hay thể gây di chứng nặng (life-altering). Tiên lượng tử vong có thể được dự đoán dựa trên bằng chứng siêu âm về chu vi ngực nhỏ, dẫn đến thiểu sản phổi (bảng 2). Chẩn đoán phân tử đối với một thể loạn sản khung xương đã biết sẽ mang lại kết quả khẳng định và nên được triển khai sớm trong quá trình đánh giá trước sinh. (Xem ‘Dự đoán các thể loạn sản khung xương gây tử vong dựa trên thiểu sản phổi’ ở dưới.)
Nhiều thể loạn sản gây di chứng nặng (ví dụ: loạn sản sụn không toàn phần thể dị hợp tử) có kết quả khảo sát thai nhi bình thường trong tam cá nguyệt thứ hai, nhưng các bất thường đáng kể về chi chỉ được ghi nhận trên siêu âm tam cá nguyệt thứ ba. Điều này làm hạn chế giá trị của chẩn đoán hình ảnh khi thai nhi có nguy cơ mắc loạn sản sụn không toàn phần là 50% trong trường hợp cha hoặc mẹ mắc bệnh. Thể đồng hợp tử của loạn sản sụn không toàn phần có kiểu hình tương tự như TD và thường gây tử vong. (Xem ‘Loạn sản sụn không toàn phần thể đồng hợp tử’ ở dưới.)
Quản lý thai kỳ
Tư vấn – Sau khi xác định được khả năng gây tử vong hoặc gây di chứng nặng của các dấu hiệu và đưa ra chẩn đoán khả thi, bệnh nhân cần được tư vấn và cung cấp các lựa chọn về việc tiếp tục hay đình chỉ thai kỳ. Việc tư vấn nên được thực hiện bởi một hội đồng chuyên gia bao gồm: chuyên gia chẩn đoán hình ảnh chu sinh, chuyên gia di truyền y học, chuyên gia y học bào thai, chuyên gia tư vấn di truyền và bác sĩ sơ sinh. Nếu một hoặc cả hai cha mẹ mắc loạn sản khung xương, cần xác định rõ chẩn đoán của họ và thảo luận về ảnh hưởng của những chẩn đoán này đối với thai kỳ, bao gồm phương pháp sinh và quản lý sau sinh. (Xem ‘Quản lý thai kỳ’ ở dưới.)
Xét nghiệm di truyền – Hầu hết các trường hợp loạn sản khung xương là kết quả của các biến thể gây bệnh ở một gen đơn lẻ với phương thức di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, lặn trên nhiễm sắc thể thường hoặc liên kết nhiễm sắc thể X. Một phần đáng kể các bệnh lý thể trội là kết quả của biến thể gây bệnh “de novo” (đột biến mới phát sinh) trong tinh trùng hoặc trứng, dẫn đến thai nhi mắc bệnh (trong khi cha mẹ không mang biến thể gây bệnh), do đó nguy cơ tái mắc là thấp.
Khi cả cha và mẹ đều mắc cùng một hoặc các bệnh loạn sản khung xương trội khác nhau, thai nhi có nguy cơ cao mắc thể gây tử vong do tình trạng đồng hợp tử, dị hợp tử kép (cho cùng một bệnh) hoặc dị hợp tử cho hai bệnh trội khác nhau (dị hợp tử kép). Trong những trường hợp này, việc xác định các biến thể di truyền của cha mẹ trước khi mang thai là rất hữu ích để thực hiện sàng lọc di truyền tiền làm tổ (PGT), chẩn đoán trước sinh sớm (trước khi xuất hiện các dấu hiệu hình ảnh trên siêu âm) hoặc chẩn đoán trước sinh muộn hơn để xác nhận chẩn đoán sơ bộ từ hình ảnh.
Khi cha mẹ không mắc bệnh nhưng thai nhi nghi ngờ bị loạn sản khung xương thể gây tử vong, phân tích phân tử trước sinh hoặc sau sinh sẽ hữu ích nhất cho việc lập kế hoạch cho các lần mang thai tương lai hơn là dự đoán kết quả của thai kỳ hiện tại, vì các dấu hiệu siêu âm trước sinh của loạn sản khung xương thể gây tử vong có giá trị tiên lượng đáng tin cậy. (Xem ‘Vai trò của xét nghiệm chẩn đoán phân tử’ ở dưới.)
Đánh giá và tư vấn sau sinh – Sau khi sinh hoặc đình chỉ thai kỳ, chẩn đoán cần được xác định/khẳng định thông qua lâm sàng, X-quang, kết quả giải phẫu bệnh (tự thiết) và phân tích DNA. Mẫu nuôi cấy tế bào và DNA nên được lưu trữ để phục vụ điều tra sâu hơn, bao gồm phân tích vi mảng (microarray) và phân tích phân tử nếu chưa được thực hiện trong thời kỳ mang thai.
Kết quả và những ảnh hưởng của chúng đối với kế hoạch sinh sản trong tương lai cần được thảo luận kỹ với bệnh nhân và bạn đời. Nếu chẩn đoán có ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình, cần đề xuất tư vấn và thăm khám thêm cho họ sau khi được sự đồng ý của cặp vợ chồng. (Xem ‘Đánh giá sau sinh/sau đình chỉ thai kỳ’ ở dưới.)
