TÓM TẮT
Chẩn đoán
- Đối với bệnh nhân nghi ngờ ung thư bàng quang không xâm lấn cơ (NMIBC; giai đoạn Tis, Ta và T1 ( hình 1 và bảng 1 )), quy trình chẩn đoán bao gồm thăm khám dưới gây mê, nội soi cắt đốt u bàng quang qua niệu đạo (TURBT) toàn diện và các chẩn đoán hình ảnh để phân giai đoạn. (Xem mục ‘Chẩn đoán’ ở trên.)
Chỉ định cắt đốt lại (restaging TURBT)
- Đối với bệnh nhân đã xác định chẩn đoán NMIBC sau lần cắt đốt đầu tiên, cần thực hiện cắt đốt lại (restaging TURBT) sau 4 đến 6 tuần với các chỉ định sau (xem mục ‘Chỉ định cắt đốt lại’ ở trên):
- Cắt đốt không hoàn toàn trong lần TURBT đầu tiên
- U giai đoạn T1
- Một số trường hợp u độ mô học cao giai đoạn Ta (ví dụ: u kích thước lớn và/hoặc đa ổ)
Phân tầng nguy cơ
- Bệnh nhân có chẩn đoán NMIBC được xác nhận qua mô bệnh học sau khi hoàn tất TURBT sẽ được phân tầng nguy cơ tái phát và tiến triển (thấp, trung bình, cao và rất cao) dựa trên các yếu tố lâm sàng và đặc điểm khối u. (Xem mục ‘Quản lý’ ở trên.)
Điều trị
- Chiến lược điều trị hỗ trợ bằng thuốc bơm nội bàng quang dựa trên sự phân tầng nguy cơ tái phát bệnh ( bảng 2 và phác đồ 1 ). (Xem mục ‘Phân tầng nguy cơ’ ở trên.)
Bệnh nguy cơ thấp
- Đối với bệnh nhân nghi ngờ bệnh nguy cơ thấp hoặc có điểm số tái phát theo EORTC (European Organisation for Research and Treatment of Cancer) < 5 ( bảng 3 ), chúng tôi khuyến cáo bơm hóa chất nội bàng quang một lần duy nhất sau phẫu thuật thay vì không điều trị hoặc các phác đồ khác ( Khuyến cáo 2B ), sau đó theo dõi định kỳ. Trong các phác đồ hiện có, chúng tôi đề xuất sử dụng gemcitabine ( Khuyến cáo 2C ); mitomycin, epirubicin và pirarubicin là các lựa chọn thay thế chấp nhận được. (Xem mục ‘Bệnh nguy cơ thấp’ và ‘Các mô hình dự đoán’ ở trên.)
Bệnh nguy cơ trung bình
- Đối với bệnh nhân nguy cơ trung bình, chúng tôi khuyến cáo bơm hóa chất nội bàng quang bằng gemcitabine, sau đó duy trì trong một năm để giảm nguy cơ tái phát bệnh, thay vì sử dụng các hoạt chất hoặc phương pháp tiếp cận khác ( Khuyến cáo 2C ). (Xem mục ‘Bệnh nguy cơ trung bình’ ở trên.)
- Các lựa chọn hóa trị nội bàng quang khác bao gồm epirubicin và mitomycin. Tuy nhiên, mitomycin ít được ưu tiên hơn do độc tính cao hơn đáng kể so với gemcitabine. (Xem mục ‘Bơm nội bàng quang bằng epirubicin’ và ‘Bơm nội bàng quang bằng mitomycin’ ở trên.)
- Mặc dù Bacille Calmette-Guérin (BCG) nội bàng quang là một lựa chọn thay thế hiệu quả, phương pháp này ít được ưu tiên hơn do nguy cơ tiến triển bệnh ở nhóm nguy cơ trung bình là thấp, độc tính cao hơn và nguồn cung hiện đang khan hiếm. (Xem mục ‘Bơm nội bàng quang bằng BCG (bệnh nguy cơ trung bình)’ ở trên.)
Bệnh nguy cơ cao
- Đối với hầu hết bệnh nhân nguy cơ cao, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng BCG nội bàng quang thay vì hóa trị nội bàng quang ( Khuyến cáo 2C ). BCG được sử dụng theo đợt tấn công, tiếp nối bằng đợt điều trị duy trì trong 3 năm. (Xem mục ‘Bệnh nguy cơ cao’ ở trên.)
Bệnh nguy cơ rất cao
- Đối với hầu hết bệnh nhân nguy cơ rất cao, chúng tôi khuyến cáo phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc ngay lập tức thay vì điều trị nội bàng quang ( Khuyến cáo 2C ). Điều trị nội bàng quang là lựa chọn thay thế cho những trường hợp u giai đoạn T1 độ mô học cao kèm ung thư biểu mô tại chỗ (CIS) khu trú. Liệu pháp đa mô thức (TMT; cắt đốt TURBT tối đa kết hợp hóa xạ trị) là một lựa chọn thay thế cho những bệnh nhân có chức năng bàng quang tốt, mắc bệnh giai đoạn T1, có xâm lấn mạch bạch huyết (LVI) và không kèm CIS. (Xem mục ‘Bệnh nguy cơ rất cao’ ở trên.)
Theo dõi sau điều trị
- Tất cả bệnh nhân NMIBC cần được theo dõi sát sao. Cường độ theo dõi được điều chỉnh tùy theo nguy cơ tái phát. Các thành phần chính của việc theo dõi bao gồm nội soi bàng quang định kỳ, xét nghiệm tế bào học nước tiểu và chẩn đoán hình ảnh đường tiết niệu trên. (Xem mục ‘Theo dõi sau điều trị’ ở trên.)
Bệnh tái phát hoặc tồn lưu
- Việc quản lý bệnh nhân NMIBC tái phát hoặc tồn lưu được thảo luận ở phần riêng biệt. (Xem “Điều trị ung thư bàng quang không xâm lấn cơ tái phát hoặc tồn lưu” .)
