TÓM TẮT
Định nghĩa – Thuật ngữ “hồng ban độc tính do hóa trị” (toxic erythema of chemotherapy – TEC) dùng để chỉ các phản ứng da gây độc tế bào khác nhau có thể xảy ra khi điều trị bằng hóa trị liệu truyền thống. Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là tổn thương ở bàn tay và bàn chân (hội chứng bàn tay – bàn chân [HFS], còn được gọi là loạn cảm hồng ban lòng bàn tay – lòng bàn chân hoặc hồng ban đầu chi). (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Tác nhân gây bệnh – Các thuốc thường liên quan đến TEC nhất bao gồm doxorubicin, doxorubicin liposomal pegylated, các fluoropyrimidine (fluorouracil, capecitabine), cytarabine và docetaxel. Tuy nhiên, TEC có thể xảy ra với nhiều loại thuốc khác (bảng 1). (Xem ‘Tần suất và tác nhân gây bệnh’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng
Hội chứng bàn tay – bàn chân (HFS) – Các triệu chứng của HFS thường khởi phát từ một đến ba tuần sau khi dùng hóa trị. Bệnh nhân ban đầu thường than phiền về cảm giác châm chích, sau đó là phù và hồng ban đối xứng, đau khi chạm vào, biểu hiện rõ rệt nhất ở vùng đệm mỡ của các đốt ngón xa (hình 1A-B). Hiện tượng mất vân tay tạm thời có thể xảy ra trong HFS liên quan đến capecitabine. HFS liên quan đến liều lượng và thường tự khỏi trong vòng hai đến bốn tuần sau khi ngưng tác nhân gây bệnh. (Xem ‘Hội chứng bàn tay – bàn chân’ ở dưới.)
Các biến thể lâm sàng – Các biến thể lâm sàng bao gồm:
- Hăm da ác tính.
- Hội chứng hồng ban vùng mô cái quanh khớp kèm tách móng (PATEO) liên quan đến nhóm taxane (hình 2).
- Mảng loạn cảm hồng ban cố định gần vị trí truyền thuốc, đặc trưng của docetaxel truyền tĩnh mạch.
- Biến thể bọng nước nghiêm trọng giống hội chứng Stevens-Johnson/hoại tử thượng bì độc tính.
(Xem ‘Các biến thể lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán TEC thường dựa vào lâm sàng. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Điều trị – Phương pháp điều trị chính cho TEC là ngưng thuốc hoặc điều chỉnh liều, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của phản ứng (bảng 2). Đối với bệnh nhân HFS mức độ nặng (độ 2 hoặc 3), chúng tôi đề xuất sử dụng corticosteroid bôi tại chỗ cường độ siêu mạnh (nhóm 1 (bảng 3)) thay vì các tác nhân bôi tại chỗ khác, kết hợp với điều trị hỗ trợ (Khuyến cáo 2C). Điều trị hỗ trợ bao gồm chăm sóc vết thương đối với các tổn thương trợt và loét, dùng chất làm mềm da, thuốc tiêu sừng tại chỗ cho các vùng tăng sừng và thuốc giảm đau đường uống để kiểm soát đau. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)
Phòng ngừa – Đối với bệnh nhân điều trị bằng fluoropyrimidine, chúng tôi đề xuất sử dụng các chế phẩm urea bôi tại chỗ hoặc diclofenac bôi tại chỗ để dự phòng HFS (Khuyến cáo 2C). Kem chứa urea nồng độ 2% đến 10% được bôi vào bàn tay và bàn chân ba lần mỗi ngày và nên bôi lại sau khi rửa tay. Diclofenac bôi tại chỗ được sử dụng hai lần mỗi ngày. Mặc dù celecoxib đường uống đã được chứng minh là có hiệu quả trong dự phòng HFS, nhưng các rủi ro liên quan đến tác dụng phụ tim mạch và xuất huyết tiêu hóa trên khiến thuốc này không phù hợp để điều trị dự phòng. (Xem ‘Phòng ngừa’ ở dưới.)
