Đặt nội khí quản khi bệnh nhân còn tỉnh

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Chỉ định đặt nội khí quản khi bệnh nhân còn thức (ATI)

Chống chỉ định và thận trọng

  • Chống chỉ định tuyệt đối duy nhất của ATI là sự từ chối của bệnh nhân. Tránh thực hiện ATI ở bệnh nhân cần đặt nội khí quản cấp cứu ngay lập tức, bệnh nhân không hợp tác, bệnh nhân dị ứng thuốc tê tại chỗ, hoặc bệnh nhân có tình trạng chảy máu hoặc tiết dịch đường thở quá mức. (Xem ‘Chống chỉ định và thận trọng’ ở dưới.)

Lựa chọn phương pháp

  • Quyết định thực hiện ATI bằng ống soi mềm hay đèn soi thanh quản video (VL) phụ thuộc vào các yếu tố của bệnh nhân, kinh nghiệm của lâm sàng viên và sự sẵn có của trang thiết bị. Ưu tiên VL ở bệnh nhân đang chảy máu đường thở và ưu tiên ống soi mềm ở bệnh nhân hạn chế há miệng. Nên ưu tiên đường miệng hơn đường mũi khi đặt nội khí quản bằng ống soi mềm, trừ khi bệnh nhân khít hàm hoặc có tổn thương gây tắc nghẽn khoang miệng. (Xem ‘Lựa chọn phương pháp’ ở dưới.)

Chuẩn bị bệnh nhân

Thuốc giảm tiết nước bọt

  • Đối với bệnh nhân thực hiện ATI, chúng tôi đề xuất sử dụng glycopyrrolate (Khuyến cáo 2C). Liều dùng là 0,2 mg đường tĩnh mạch từ 15 đến 30 phút trước khi đặt nội khí quản. Thuốc giúp làm khô dịch tiết đường thở và có thể cải thiện khả năng quan sát. (Xem ‘Thuốc giảm tiết nước bọt’ ở dưới.)

Thuốc co mạch mũi

  • Đối với bệnh nhân thực hiện ATI qua đường mũi (là kế hoạch ban đầu hoặc là kế hoạch dự phòng nếu đặt đường miệng thất bại), chúng tôi đề xuất sử dụng thuốc co mạch mũi tại chỗ (Khuyến cáo 2C) để giảm nguy cơ chảy máu và làm rộng lòng mũi. Các lựa chọn phù hợp bao gồm oxymetazoline 0,05% hoặc phenylephrine 0,5%, xịt mỗi lỗ mũi hai lần. (Xem ‘Thuốc co mạch mũi’ ở dưới.)

Các biện pháp khác

Gây tê đường thở

  • Cần phải gây tê đường thở khi thực hiện đặt nội khí quản khi bệnh nhân còn thức. Đối với bệnh nhân thực hiện ATI, chúng tôi đề xuất gây tê đường thở tại chỗ bằng lidocaine thay vì các loại thuốc hoặc phương pháp gây mê khác (Khuyến cáo 2C). Sử dụng lidocaine 4% dạng khí dung với lưu lượng oxy thấp (2 đến 4 L/phút). Một lựa chọn thay thế hợp lý là phun sương lidocaine 4% vào vùng khẩu hầu và hạ hầu bằng thiết bị phun sương niêm mạc thanh khí quản (LTA), sau đó bôi thuốc mỡ lidocaine 5% vào mặt sau lưỡi bằng dụng cụ đè lưỡi. (Xem ‘Gây tê tại chỗ’ ở dưới.)
  • Nếu thực hiện đặt nội khí quản bằng ống soi mềm, chúng tôi gây tê thanh quản bằng phương pháp “phun sương khi đang thực hiện” (spray-as-you-go). Nếu sử dụng VL, chúng tôi gây tê thanh quản bằng cách phun thuốc tê tại chỗ với thiết bị LTA.
  • Các phương pháp phong bế thần kinh hoặc gây tê tại chỗ qua da thay thế/hỗ trợ bao gồm các kỹ thuật sau (xem ‘Lựa chọn kỹ thuật’ ở dưới):

An thần

Quy trình thực hiện

Xác nhận vị trí ống nội khí quản

Phải sử dụng phương pháp kiểm tra hai bước bao gồm quan sát trực tiếp và đo capnography để xác nhận vị trí đặt ống nội khí quản chính xác. (Xem ‘Xác nhận vị trí ống nội khí quản’ ở dưới và “Xác nhận vị trí đặt ống nội khí quản chính xác ở người lớn”.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here