Kết tủa lạnh và nồng độ fibrinogen

TÓM TẮT

Sinh học

  • Fibrinogen được cắt lọc thành fibrin, thành phần cấu trúc chính của cục máu đông. Khác với các yếu tố đông máu dạng enzyme chỉ cần nồng độ rất thấp, nồng độ fibrinogen lưu hành trong máu rất cao (200 đến 400 mg/dL). (Xem ‘Vai trò của fibrinogen trong quá trình đông máu’ phía trên).

Thành phần

  • Tủa lạnh (Cryoprecipitate) được sản xuất từ Huyết tương tươi đông lạnh (Fresh Frozen Plasma – FFP) sẵn có hoặc Huyết tương đông lạnh trong vòng 24 giờ sau khi lấy máu (PF24), bằng cách rã đông và cô đặc các protein kết tủa. Tủa lạnh chứa fibrinogen (yếu tố I), yếu tố VIII, fibronectin, yếu tố XIII và yếu tố von Willebrand (VWF). Tủa lạnh bất hoạt m pathogen (Pathogen-inactivated – PI Cryoprecipitate) được sản xuất từ huyết tương đã bất hoạt mầm bệnh. Chế phẩm fibrinogen cô lập được tinh chế từ huyết tương người gộp qua nhiều bước tinh chế và xử lý nhiệt. Các chế phẩm RiaSTAP (Haemocomplettan ở Israel) và FIBRYGA được tinh chế bằng các phương pháp có đôi chút khác biệt. (Xem ‘Chuẩn bị và các thành phần’ và “Bất hoạt tác nhân gây bệnh trong các sản phẩm máu”, phần về ‘Kết tủa lạnh’ phía trên).

Sự khác biệt giữa tủa lạnh và fibrinogen cô đặc

  • Ở bệnh nhân đang chảy máu có giảm fibrinogen, cả tủa lạnh hoặc fibrinogen cô đặc đều có thể cung cấp nguồn fibrinogen thay thế. Nhiều cơ sở y tế chỉ lưu trữ một loại sản phẩm chính. Sự khác biệt giữa các sản phẩm được tóm tắt ở trên (bảng 1). (Xem ‘Sự khác biệt giữa các nguồn fibrinogen’ phía trên).

Chỉ định và chống chỉ định

Liều lượng

  • Tủa lạnh: Có thể cung cấp dưới dạng túi đơn lẻ hoặc dạng “gộp” chứa từ 5 đơn vị trở lên. Bác sĩ lâm sàng nên trao đổi với ngân hàng máu hoặc dịch vụ truyền máu tại bệnh viện địa phương để xác định chính xác thành phần của một “túi” tủa lạnh (bao nhiêu đơn vị đơn lẻ được gộp lại trong túi đó) nhằm tính toán liều lượng chính xác cho bệnh nhân. Ở bệnh nhân trung bình, mỗi đơn vị làm tăng nồng độ fibrinogen huyết tương lên khoảng 7 đến 10 mg/dL; do đó, 10 đơn vị sẽ làm tăng nồng độ fibrinogen lên khoảng 70 đến 100 mg/dL ở người nhận nặng 70 kg (bảng 2). (Xem ‘Liều lượng và cách dùng’ phía trên).
  • Fibrinogen cô đặc: Liều lượng được tính bằng cách lấy nồng độ fibrinogen mục tiêu trừ đi nồng độ fibrinogen đo được, sau đó chia cho hệ số hiệu chỉnh của nhà sản xuất. (Xem “Các rối loạn fibrinogen”, phần ‘Cô đặc fibrinogen: Liều lượng và theo dõi’).

Tác dụng phụ

  • Tủa lạnh mang các nguy cơ về nhiều loại phản ứng/biến chứng truyền máu, bao gồm nhiễm trùng lây truyền qua đường truyền máu (bảng 3), quá tải thể tích, phản ứng truyền máu huyết tán, biến cố huyết khối tắc mạch và phản ứng dị ứng. Nên liên hệ với dịch vụ y học truyền máu để thảo luận về khả năng đánh giá và xét nghiệm nếu bệnh nhân truyền tủa lạnh có nghi ngờ phản ứng truyền máu. Fibrinogen cô đặc mang nguy cơ xảy ra phản ứng dị ứng và các biến cố huyết khối tắc mạch. (Xem ‘Tác dụng phụ của tủa lạnh’ phía trên và “Tiếp cận bệnh nhân nghi ngờ có phản ứng truyền máu cấp tính”).

Các thành phần huyết tương khác

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here