Gãy thân xương chày và xương mác ở trẻ em

TÓM TẮT

Dịch tễ học – Gãy thân xương chày là chấn thương thường gặp ở trẻ em. Trẻ nhỏ có thể gặp gãy xương không di lệch sau những cú ngã nhẹ hoặc chấn thương xoắn. Ở trẻ lớn và trẻ vị thành niên, cơ chế chấn thương điển hình thường là tai nạn giao thông năng lượng cao hoặc chấn thương liên quan đến thể thao (hình 1). (Xem ‘Dịch tễ học’ và ‘Cơ chế chấn thương’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Trẻ gãy thân xương chày và xương mác thường có biểu hiện đau, sưng và/hoặc biến dạng tại vị trí chấn thương, thường không thể hoặc không muốn đi lại; trẻ chỉ gãy đơn độc xương mác có thể vẫn đi được nhưng đi khập khiễng. (Xem ‘Thăm khám lâm sàng’ ở dưới.)

Gãy thân xương chày dạng chéo hoặc ngang có thể biến chứng thành gãy hở hoặc hội chứng chèn ép khoang cấp tính. (Xem ‘Thăm khám lâm sàng’ ở dưới.)

Trẻ gãy xương dạng torus, gãy uốn cong (bowing) hoặc gãy xương trẻ tập đi (gãy xoắn không di lệch thân xương chày) có thể sưng rất ít. Ấn đau xương thường được ghi nhận ở trẻ lớn, có khả năng giao tiếp khi gặp gãy torus hoặc gãy uốn cong. Đối với gãy xương trẻ tập đi, việc xác định vị trí đau có thể khó khăn do trẻ nhỏ chưa hợp tác hoặc chưa có khả năng diễn đạt. (Xem ‘Thăm khám lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh – X-quang quy ước tư thế thẳng (AP) và nghiêng vùng cẳng chân, bao gồm cả khớp gối và khớp cổ chân, là phương pháp chẩn đoán hình ảnh ban đầu phù hợp cho trẻ nghi ngờ gãy thân xương chày và/hoặc xương mác để xác nhận chẩn đoán. (Xem ‘Hình ảnh X-quang’ ở dưới.)

Xử trí ban đầu – Ở những bệnh nhân gãy kín thân xương chày và/hoặc xương mác, không có dấu hiệu tổn thương thần kinh mạch máu hoặc đa chấn thương, xử trí ban đầu tập trung vào kiểm soát đau, cố định vùng gãy và giảm sưng. (Xem “Tổng quan về gãy xương chày ở trẻ em”, mục ‘Xử trí ban đầu’.)

Gãy hở – Ngoài việc kiểm soát đau và cố định, bệnh nhân gãy hở cần được hội chẩn cấp cứu chuyên khoa chấn thương chỉnh hình, dùng kháng sinh tĩnh mạch và tiêm phòng uốn ván (bảng 4). (Xem ‘Gãy hở’ ở dưới.)

Điều trị triệt để – Việc điều trị triệt để các trường hợp gãy di lệch thân xương chày và/hoặc xương mác tùy thuộc vào xương bị tổn thương, kiểu gãy và mức độ di lệch. (Xem ‘Điều trị triệt để’ ở dưới.)

Chỉ định hội chẩn chấn thương chỉnh hình – Các chấn thương sau đây cần hội chẩn cấp cứu chuyên khoa chấn thương chỉnh hình (xem ‘Chỉ định hội chẩn hoặc chuyển tuyến chấn thương chỉnh hình’ ở dưới):

Đối với bệnh nhân nghi ngờ hội chứng chèn ép khoang, cần tháo bỏ tất cả các loại băng gạc, nẹp, bó bột hoặc bất kỳ vật dụng gây chèn ép nào. Không được kê cao chi. (Xem ‘Hội chứng chèn ép khoang cấp tính’ ở dưới và “Hội chứng chèn ép khoang cấp tính ở chi”.)

Những bệnh nhân cần nắn chỉnh kín hoặc phẫu thuật điều trị gãy thân xương chày cần nhập viện để theo dõi các dấu hiệu của hội chứng chèn ép khoang cấp tính trong vòng 24 đến 48 giờ. (Xem ‘Hướng xử trí’ ở dưới.)

Gãy không di lệch – Bệnh nhân gãy ngang, gãy cành tươi (buckle) hoặc gãy uốn cong (bowing) xương chày không di lệch (hình 3) cần được cố định (nẹp hoặc bó bột), không cho đi lại và được hướng dẫn kê cao vùng gãy trên mức tim nhiều nhất có thể trong 48 giờ đầu sau chấn thương. Những bệnh nhân này có thể được cho về nhà và hẹn tái khám chuyên khoa chấn thương chỉnh hình trong vòng 7 đến 10 ngày kể từ ngày chấn thương. (Xem ‘Điều trị triệt để’ và ‘Hướng xử trí’ ở dưới.)

Gãy xoắn (gãy xương trẻ tập đi) – Đối với trẻ gãy xoắn không di lệch 2/3 dưới xương chày đã được xác chẩn (hình 2), chúng tôi đề nghị sử dụng giày boot cố định (hình 2) thay vì bó bột (Khuyến cáo 2B). Việc sử dụng tất ống (stockinette) trước khi đeo boot giúp giảm nguy cơ kích ứng da và loét do tỳ đè. Trẻ gãy xoắn di lệch hoặc gãy 1/3 trên xương chày cần được bó bột dài. (Xem ‘Gãy xoắn xương chày (gãy xương trẻ tập đi)’ ở dưới.)

Đối với những bệnh nhân đi khập khiễng hoặc không thể đi lại, có biểu hiện lâm sàng gợi ý gãy xương (ví dụ: ấn đau khu trú và sưng xương chày) nhưng X-quang âm tính, chúng tôi đề nghị không cần cố định thay vì dùng giày boot hoặc bó bột (Khuyến cáo 2C).

Bảo vệ trẻ em – Khi chẩn đoán gãy thân xương chày ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhũ nhi chưa biết đi, với cơ chế chấn thương nghi ngờ, cần tiến hành đánh giá nguy cơ bị lạm dụng trẻ em (bảng 5). Việc hội chẩn với một đội ngũ đa chuyên khoa về lạm dụng trẻ em, bao gồm cả chuyên gia về lạm dụng trẻ em (nếu có), là phương án tối ưu và có thể hỗ trợ chuyển trẻ đến trung tâm có đầy đủ nguồn lực này. (Xem “Lạm dụng thể chất ở trẻ em: Nhận biết” và “Lạm dụng thể chất ở trẻ em: Đánh giá chẩn đoán và xử trí”.)

Ở nhiều nơi trên thế giới, việc báo cáo bắt buộc cho cơ quan chính quyền có thẩm quyền là yêu cầu cần thiết đối với các trường hợp nghi ngờ lạm dụng. Đồng thời, cần đánh giá thêm để tìm các tổn thương khác kèm theo. (Xem “Lạm dụng trẻ em: Các vấn đề xã hội và pháp lý y khoa”, mục ‘Báo cáo nghi ngờ lạm dụng’.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here