TÓM TẮT
Tổng quan – Béo phì là một bệnh lý mạn tính trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến trẻ em, thanh thiếu niên và người trưởng thành, gây ra những tác động to lớn về sức khỏe và kinh tế. Do các phương pháp can thiệp y khoa và thay đổi hành vi để giảm cân có thể không hiệu quả với nhiều bệnh nhân, các phẫu thuật điều trị béo phì ngày càng trở nên phổ biến trên toàn cầu. (Xem ‘Giới thiệu’ và ‘Tổng quan’ ở dưới.)
Chỉ định – Đối tượng phù hợp để phẫu thuật điều trị béo phì bao gồm (xem ‘Chỉ định’ ở dưới):
- Người trưởng thành có chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 35 kg/m2, bất kể có hay không có các bệnh đồng mắc hoặc mức độ nghiêm trọng của chúng.
- Người trưởng thành có BMI từ 30,0 đến 34,9 kg/m2 kèm theo đái tháo đường type 2.
- Người trưởng thành có BMI từ 30,0 đến 34,9 kg/m2 không thể đạt được mức giảm cân đáng kể hoặc bền vững, hoặc không cải thiện được các bệnh đồng mắc bằng các phương pháp giảm cân không phẫu thuật.
- Đối với một số bệnh nhân Đông Nam Á và bệnh nhân gốc Hispanic không phải da đen, tiêu chuẩn BMI có thể giảm xuống 2,5 kg/m2 cho mỗi phân loại, do tỷ lệ béo phì vùng thân mình (tức là mỡ tạng) cao hơn.
Chống chỉ định – Phẫu thuật điều trị béo phì không được thực hiện trong các trường hợp sau (xem ‘Chống chỉ định’ ở dưới):
- Mục đích chỉ để kiểm soát đường huyết, lipid máu hoặc giảm nguy cơ tim mạch mà không dựa trên các thông số BMI, mặc dù vấn đề này hiện đang được nghiên cứu.
- Rối loạn tâm lý xã hội chưa được điều trị hoặc không kiểm soát được (ví dụ: trầm cảm nặng, loạn thần, chứng ăn vô độ, rối loạn sử dụng chất).
- Không dung nạp phẫu thuật (ví dụ: bệnh tim phổi nặng, rối loạn đông máu).
- Không có khả năng tuân thủ các yêu cầu về dinh dưỡng sau phẫu thuật (ví dụ: chế độ ăn phù hợp, bổ sung vitamin).
Đánh giá tiền phẫu – Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật điều trị béo phì cần được đánh giá bởi (xem ‘Đánh giá tiền phẫu’ ở dưới):
- Chuyên gia sức khỏe hành vi đủ năng lực để đánh giá chức năng tâm lý xã hội, rối loạn sử dụng chất hoặc các hành vi ăn uống không thích nghi.
- Chuyên gia dinh dưỡng để đánh giá tiền sử cân nặng và hành vi ăn uống, xem xét các loại thuốc đang dùng, thành phần cơ thể, mức tiêu hao năng lượng và tình trạng thiếu hụt vi chất.
- Bác sĩ chuyên khoa điều trị béo phì, bác sĩ chăm sóc chính hoặc các chuyên gia khác để đánh giá chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), đái tháo đường, bệnh tim, rối loạn lipid máu, gout và suy giáp, cùng các bệnh đồng mắc khác.
Can thiệp tiền phẫu – Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật điều trị béo phì nên được khuyến khích (xem ‘Can thiệp tiền phẫu’ ở dưới):
- Ngừng hút thuốc lá hoặc sử dụng cần sa ít nhất sáu tuần trước phẫu thuật.
- Tránh sử dụng rượu trong ít nhất một năm nếu có tiền sử rối loạn sử dụng rượu. Ngừng uống rượu ít nhất một tháng trước phẫu thuật và tư vấn cho bệnh nhân về nguy cơ phát triển rối loạn sử dụng rượu sau phẫu thuật.
- Đối với tất cả bệnh nhân phẫu thuật điều trị béo phì, chúng tôi đề nghị ngừng sử dụng thuốc tránh thai đường uống chứa estrogen một tháng hoặc liệu pháp thay thế hormone ba tuần trước phẫu thuật để giảm nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch (Khuyến cáo 2C).
- Tham gia chương trình giảm cân tiền phẫu với chế độ ăn ít calo từ 2 đến 12 tuần trước phẫu thuật.
- Tham gia chương trình tập luyện thể chất và can thiệp hô hấp (tiền phục hồi – prehabilitation) từ 4 đến 12 tuần trước phẫu thuật.
Tư vấn tiền phẫu – Bệnh nhân cần được tư vấn để phát triển các kỹ năng đối phó, loại bỏ các hành vi không thích nghi, đồng thời hiểu rõ những rủi ro và lợi ích của phẫu thuật. Các nguồn tài nguyên trực tuyến như công cụ tính toán của Chương trình Công nhận và Cải thiện Chất lượng Phẫu thuật Chuyển hóa và Béo phì (MBSAQIP) có thể giúp bệnh nhân thiết lập những kỳ vọng thực tế về kết quả phẫu thuật. (Xem ‘Tư vấn tiền phẫu’ ở dưới.)
