Điều trị lymphoma tế bào T ngoại biên tái phát hoặc kháng trị

TÓM TẮT

Mô tả

  • U lympho tế bào T ngoại biên (PTCL) là một nhóm u tân sinh có tính chất không đồng nhất và thường có độ ác tính cao. Hầu hết bệnh nhân PTCL không đạt được đáp ứng hoàn toàn (CR) với liệu pháp ban đầu hoặc bị tái phát sau đó. Việc quản lý ban đầu đối với PTCL được thảo luận ở phần riêng. (Xem “Điều trị ban đầu u lympho tế bào lớn anaplasia hệ thống (sALCL)”).

Đánh giá

  • Bệnh nhân nghi ngờ tái phát PTCL nên được sinh thiết hạch bạch huyết hoặc khối u liên quan để xác định chính xác tình trạng tái phát và đánh giá khả năng thay đổi mô bệnh học. Việc phân giai đoạn PTCL tái phát hoặc kháng trị dựa trên đánh giá lâm sàng và chụp cắt lớp phát xạ positron (bảng 2). (Xem ‘Đánh giá tình trạng kháng trị hoặc tái phát nghi ngờ’ ở dưới).

Tổng quan

  • Chúng tôi khuyến khích bệnh nhân tham gia các thử nghiệm lâm sàng bất cứ khi nào có thể. Đối với các trường hợp khác, chúng tôi phân tầng điều trị dựa trên tiêu chuẩn đủ điều kiện ghép tế bào tạo máu (HCT). (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới).
  • Lưu ý rằng việc điều trị u lympho tế bào lớn anaplasia hệ thống (sALCL) tái phát hoặc kháng trị được bàn luận ở một phần riêng. (Xem “Điều trị u lympho tế bào lớn anaplasia hệ thống (sALCL) tái phát/kháng trị”).

Quản lý điều trị

  • Phân tầng dựa trên bản chất của đợt tái phát và mục tiêu tiến hành ghép tế bào tạo máu.

Hóa trị cứu vãn

  • Đối với hầu hết bệnh nhân đủ điều kiện ghép tế bào tạo máu (HCT), chúng tôi đề nghị điều trị cứu vãn bằng phác đồ hóa trị kết hợp nhằm làm cầu nối tới thời điểm ghép, thay vì sử dụng các thuốc mới hơn hoặc các thuốc hóa trị đơn chất tuần tự (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Điều trị bệnh lý tái phát/kháng trị’ ở dưới).

Các thuốc mới

  • Đối với bệnh nhân mắc bệnh kháng trị nguyên phát, tái phát sớm (ví dụ: dưới 6 tháng), hoặc tái phát nhiều lần, chúng tôi đề nghị điều trị bằng các thuốc mới hơn thay vì hóa trị đơn chất tuần tự hoặc hóa trị kết hợp (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Các thuốc mới’ ở dưới).

Liệu pháp đơn chất

  • Đối với những bệnh nhân không đủ điều kiện ghép, chúng tôi đề nghị áp dụng liệu pháp đơn chất tuần tự (các thuốc mới hoặc thuốc hóa trị) thay vì hóa trị kết hợp cứu vãn (Khuyến cáo 2C). Ưu tiên này đặt trọng tâm lớn vào việc giảm thiểu độc tính trong bối cảnh chưa rõ lợi ích cải thiện tỷ lệ sống còn. (Xem ‘Hóa trị’ ở dưới).

Ghép tế bào tạo máu

  • Ghép tế bào tạo máu đồng loại và ghép tế bào tạo máu tự thân ở những bệnh nhân đáp ứng với hóa trị liệu bước hai mang lại cơ hội sống sót lâu dài. Sự lựa chọn giữa ghép tự thân và ghép đồng loại phụ thuộc vào việc bệnh nhân đã từng được ghép tế bào tạo máu tự thân trước đó hay chưa, mức độ đáp ứng với hóa trị cứu vãn và phân nhóm PTCL (xem ‘Ghép tự thân so với ghép đồng loại’ ở dưới):

Chưa từng ghép tế bào tạo máu tự thân trước đó

  • Đối với phần lớn bệnh nhân chưa từng trải qua ghép tế bào tạo máu tự thân và đạt được lui bệnh hoàn toàn bằng hóa trị cứu vãn, chúng tôi đề nghị ghép tế bào tạo máu tự thân thay vì ghép đồng loại (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Ghép tế bào tạo máu tự thân’ ở dưới).

Đã từng ghép tế bào tạo máu tự thân

  • Đối với hầu hết bệnh nhân đã từng ghép tế bào tạo máu tự thân trước đó, đạt lui bệnh một phần sau điều trị cứu vãn, hoặc cần nhiều liệu pháp điều trị ở thời điểm tái phát để đạt được đáp ứng hoàn toàn (CR), chúng tôi đề nghị tiến hành ghép tế bào tạo máu đồng loại (Khuyến cáo 2C). Ghép tế bào tạo máu đồng loại với cường độ giảm có thể được cân nhắc cho những bệnh nhân cao tuổi không thể dung nạp chế độ điều kiện hóa có độc tính liều cao trên tủy (‘Ghép tế bào tạo máu đồng loại’ ở dưới).

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here