TÓM TẮT
Triệu chứng lo âu so với rối loạn lo âu
- Phản ứng lo âu ở trẻ dị ứng thực phẩm cùng phụ huynh/người chăm sóc là một đáp ứng phù hợp và có thể chấp nhận được. Ngược lại, rối loạn lo âu theo định nghĩa là tình trạng lo âu quá mức, dẫn đến suy giảm chức năng hoặc gây ra sự đau khổ trầm trọng. (Xem ‘Thuật ngữ và tổng quan’ phía trên.)
Tỷ lệ lưu hành
- Mặc dù chưa xác định được chính xác tỷ lệ lưu hành của các triệu chứng lo âu hoặc rối loạn lo âu ở trẻ dị ứng thực phẩm và gia đình, nhưng các nghiên cứu cho thấy nhóm đối tượng này thường ghi nhận nhiều triệu chứng lo âu hơn so với dân số chung. (Xem ‘Tỷ lệ lưu hành’ phía trên.)
Ảnh hưởng
- Lo âu có thể tác động tích cực nếu ở mức độ nhẹ, giúp bệnh nhân chú trọng đúng mức đến vấn đề an toàn; ngược lại, lo âu quá mức sẽ gây ra sự đau khổ và rối loạn chức năng đáng kể. Tình trạng này làm giảm chất lượng cuộc sống (QoL) và thường liên quan đến các bệnh lý sức khỏe tâm thần đồng mắc cũng như các hành vi sai lệch. Cơ chế đối phó thông qua né tránh là một đáp ứng bệnh lý; khi đó, người bệnh cố gắng ngừng suy nghĩ và tránh né các yếu tố gợi nhớ đến tình huống hoặc sự kiện gây lo âu. (Xem ‘Ảnh hưởng của lo âu’ phía trên.)
Cân nhắc chẩn đoán
- Khi tiếp cận trẻ hoặc phụ huynh/người chăm sóc có biểu hiện lo âu liên quan đến dị ứng thực phẩm, bước đầu tiên cần xác định là mức độ lo âu này là phù hợp hay quá mức. Các rối loạn lo âu như rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ và rối loạn ám ảnh cưỡng chế đều có những tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể. Chỉ nên cân nhắc chẩn đoán rối loạn lo âu khi sự lo âu gây rối loạn chức năng (ví dụ: ngăn cản trẻ đến trường hoặc tham gia các hoạt động xã hội). (Xem ‘Cân nhắc chẩn đoán’ phía trên.)
Theo dõi
- Hiện chưa có bằng chứng cho thấy việc tầm soát lo âu ở trẻ dị ứng thực phẩm mang lại lợi ích lâm sàng rõ rệt. Tuy nhiên, việc theo dõi chất lượng cuộc sống qua các bảng câu hỏi hoặc hỏi trực tiếp, kết hợp với việc khai thác các cơ chế đối phó né tránh, có thể mang lại hiệu quả hỗ trợ. (Xem ‘Tầm soát và theo dõi’ phía trên.)
Quản lý
- Thông thường, cần hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa tâm thần nếu nghi ngờ hoặc đã chẩn đoán rối loạn lo âu. Các lựa chọn điều trị bao gồm liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) và sử dụng thuốc. Đối với trường hợp lo âu không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn, bệnh nhân vẫn có thể đạt được lợi ích từ các can thiệp giúp cải thiện tình trạng lo âu, bao gồm các liệu pháp dựa trên “phơi nhiễm”. (Xem ‘Quản lý’ phía trên.)
Tiên lượng
- Nếu được theo dõi và điều trị thỏa đáng, khả năng cao các triệu chứng lo âu sẽ thuyên giảm hoặc biến mất ở hầu hết các trường hợp. (Xem ‘Tiên lượng’ phía trên.)
GIỚI THIỆU
Mức độ lo âu nhất định ở trẻ mắc dị ứng thực phẩm cũng như cha mẹ và người chăm sóc trẻ là phản ứng tâm lý thường gặp và dễ hiểu đối với những người đang phải đối mặt với căn bệnh ảnh hưởng lớn này. Tình trạng lo âu tự nhiên này thường có thể được cải thiện thông qua việc trấn an và giáo dục về bản chất dị ứng, giúp người bệnh nhận thức rõ đâu là mức độ căng thẳng cảm xúc phù hợp và đâu là sự lo âu vượt ngưỡng cần can thiệp. Tuy nhiên, một số trẻ (hoặc cha mẹ/người chăm sóc) biểu hiện mức độ lo âu quá mức, đòi hỏi phải có những can thiệp chuyên biệt về sức khỏe tâm thần 1.
Chủ đề này sẽ xem xét tỷ lệ mắc các rối loạn lo âu ở trẻ dị ứng thực phẩm và người chăm sóc trẻ, các dạng lo âu thường gặp, thời điểm lo âu trở thành vấn đề bệnh lý, cách thức thực hành lâm sàng để nhận diện sớm các rối loạn này và các phương pháp điều trị hiện có. Một số chủ đề riêng biệt khác sẽ đi sâu vào bệnh cảnh, chẩn đoán và điều trị rối loạn lo âu ở trẻ em và người lớn:
- Xem thêm “Tổng quan về nỗi sợ và ám ảnh ở trẻ em và thanh thiếu niên”.
- Xem thêm “Rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên: Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và diễn tiến” và “Rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên: Đánh giá và chẩn đoán”.
- Xem thêm “Điều trị dược lý cho rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên” và “Trị liệu tâm lý cho rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên”.
- Xem thêm “Rối loạn lo âu lan tỏa ở người lớn: Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, diễn tiến, đánh giá và chẩn đoán”.
- Xem thêm “Rối loạn lo âu lan tỏa ở người lớn: Quản lý” và “Rối loạn lo âu lan tỏa ở người lớn: Liệu pháp nhận thức – hành vi và các trị liệu tâm lý khác”.
- Xem thêm “Rối loạn lo âu xã hội ở người lớn: Dịch tễ học, đặc điểm lâm sàng, đánh giá và chẩn đoán”.
- Xem thêm “Rối loạn lo âu xã hội ở người lớn: Tổng quan điều trị” và “Rối loạn lo âu xã hội ở người lớn: Trị liệu tâm lý”.
- Xem thêm “Ám ảnh sợ đặc hiệu ở người lớn: Dịch tễ học, biểu hiện lâm sàng, diễn tiến và chẩn đoán”.
- Xem thêm “Ám ảnh sợ đặc hiệu ở người lớn: Tổng quan điều trị” và “Ám ảnh sợ đặc hiệu ở người lớn: Liệu pháp nhận thức – hành vi”.
- Xem thêm “Các phương pháp điều trị bổ sung và thay thế cho triệu chứng và rối loạn lo âu: Can thiệp thể chất, nhận thức và tinh thần” và “Các phương pháp điều trị bổ sung và thay thế cho triệu chứng và rối loạn lo âu: Thảo dược và thuốc”.
THUẬT NGỮ VÀ TỔNG QUAN
Lo âu được định nghĩa là “trạng thái bất an, lo lắng hoặc bồn chồn thường xuất phát từ một mối đe dọa sắp xảy ra hoặc được dự đoán trước: một trạng thái lo âu”2. Các rối loạn lo âu, vốn khác biệt với khái niệm lo âu thông thường, bao gồm các tình trạng gây ra nỗi lo quá mức dẫn đến suy giảm chức năng hoặc gây phiền muộn đáng kể trên lâm sàng3. Điểm khác biệt mấu chốt giữa lo âu thông thường và rối loạn lo âu là: lo âu là một phản ứng phù hợp và có thể chấp nhận được, trong khi rối loạn lo âu theo định nghĩa là mức độ quá mức và phải gây ra tình trạng suy giảm hoặc phiền muộn nghiêm trọng. (Xem “Các rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên: Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và diễn tiến” và “Tổng quan về nỗi sợ và ám ảnh ở trẻ em và thanh thiếu niên”.)
Trong bối cảnh dị ứng thực phẩm, lo âu rất phổ biến; cả bệnh nhân và cha mẹ/người chăm sóc thường biểu hiện mức độ lo âu cao hơn so với mức trung bình của cộng đồng4,5. Tuy nhiên, mức độ lo âu này không nhất thiết tiến triển thành một dạng rối loạn6. Lo âu được coi là một cơ chế thích nghi phù hợp với sự phát triển chừng nào nó chưa vượt qua ngưỡng khiến chức năng cơ thể bị rối loạn (ví dụ: cản trở trẻ đến trường hoặc giao tiếp xã hội). Một mức độ lo âu nhẹ về dị ứng thực phẩm thường dẫn đến việc tránh né các loại thực phẩm nguy hiểm một cách cẩn thận, từ đó góp phần bảo vệ bệnh nhân.
TỶ LỆ HIỆN MẮC
Việc xác định chính xác tỷ lệ hiện mắc các triệu chứng lo âu hoặc rối loạn lo âu ở trẻ em dị ứng thực phẩm và người chăm sóc/gia đình gặp nhiều khó khăn, do sự khác biệt đáng kể trong cách định nghĩa và đo lường tình trạng lo âu 6. “Tâm lý đau khổ” (psychological distress) – một thuật ngữ đôi khi được sử dụng thay thế cho lo âu – thực chất là một khái niệm bao hàm cả lo âu, trầm cảm, cô lập xã hội và căng thẳng. Tình trạng này được ghi nhận ở cả trẻ em và thanh thiếu niên dị ứng thực phẩm, mặc dù các nghiên cứu còn nhiều ý kiến trái chiều về việc liệu tình trạng đau khổ tâm lý có phổ biến hơn ở nhóm trẻ dị ứng thực phẩm so với quần thể dân số chung hay không 7.
Mức độ lo âu ở bệnh nhân dị ứng thực phẩm, và đặc biệt là ở phụ huynh/người chăm sóc, có khả năng cao hơn so với mức độ lo âu ghi nhận ở quần thể dân số chung. Dị ứng thực phẩm khác với các bệnh lý mạn tính khác ở chỗ: người bệnh thường có sức khỏe tốt, nhưng tình trạng sức khỏe có thể suy giảm đột ngột bởi các phản ứng dị ứng cấp tính do thực phẩm, vốn có nguy cơ diễn tiến nặng hoặc đe dọa tính mạng.
Kết quả các nghiên cứu có thể bị ảnh hưởng do thiếu sự phân biệt rõ ràng giữa lo âu, tình trạng đau khổ tâm lý và các rối loạn lo âu 6; cũng như do sự khác biệt về phương pháp nghiên cứu và đối tượng đánh giá (ví dụ: phụ huynh/người chăm sóc, trẻ em ở các giai đoạn phát triển khác nhau, hoặc cả hai) nhằm đánh giá sự đau khổ tâm lý hoặc những thay đổi về chất lượng cuộc sống (QoL) do dị ứng thực phẩm gây ra 8-10; các công cụ đánh giá (ví dụ: đã được chuẩn hóa, chưa được chuẩn hóa/đã chỉnh sửa, hoặc định tính) 11-14; và nhóm đối chứng (ví dụ: trẻ mắc các bệnh mạn tính khác, điểm số chuẩn của quần thể dân số chung) 11-17. (Xem “Dị ứng thực phẩm: Tác động đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe”.)
So sánh góc nhìn giữa người trưởng thành và trẻ em về dị ứng thực phẩm có thể làm sáng tỏ các yếu tố cụ thể góp phần gây ra tình trạng đau khổ tâm lý ở trẻ, bao gồm: sự lo âu của phụ huynh/người chăm sóc, thái độ tiêu cực của bệnh nhân đối với bệnh dị ứng và tiền sử phản vệ. Trong một nghiên cứu, điểm số về các triệu chứng lo âu, trầm cảm và căng thẳng xã hội ở trẻ dị ứng thực phẩm tương đương với điểm số đau khổ tâm lý trung bình của trẻ em trong quần thể chung. Tình trạng đau khổ cao hơn chỉ được ghi nhận ở những trẻ xem dị ứng là điều “tồi tệ” hoặc cảm thấy bản thân khác biệt so với bạn bè, cũng như ở những trẻ nhỏ có mẹ mắc chứng lo âu nghiêm trọng hơn 7. Trong một nghiên cứu khác 18, phân nhóm trẻ dị ứng thực phẩm từng trải qua phản vệ mô tả mức độ lo âu cao hơn về tình trạng bệnh và đánh giá cha mẹ là “bao bọc quá mức” so với nhóm trẻ dị ứng thực phẩm chưa từng trải qua phản vệ 10. Tuy nhiên, trải nghiệm phản vệ đôi khi có thể giúp giảm bớt đau khổ tâm lý nếu cá nhân đó có khả năng kiểm soát và làm chủ được phản ứng dị ứng. Một nghiên cứu theo dõi đoàn hệ từ lúc sinh cho thấy, những người trưởng thành trẻ tuổi có rối loạn dị ứng xác định (không chỉ riêng dị ứng thực phẩm) không có tỷ lệ mắc chứng lo âu hoặc trầm cảm cao hơn so với những người đồng trang lứa không mắc dị ứng. Điều này cho thấy rằng, mặc dù tình trạng lo âu có thể phổ biến hơn trong thời thơ ấu, nhưng nó có thể không gây ra những tác động tiêu cực kéo dài 19.
ẢNH HƯỞNG CỦA LO ÂU
Các yếu tố ảnh hưởng
Để nhận diện những bệnh nhân có mức độ lo âu quá mức, cần xem xét không chỉ dựa trên mức độ triệu chứng mà còn cả tác động của chúng. Mức độ lo âu của cha mẹ hoặc người chăm sóc, nhận thức của bệnh nhân về dị ứng thực phẩm và các cơ chế đối phó đều có thể ảnh hưởng đến trạng thái lo âu và hành vi thích nghi của trẻ mắc dị ứng thực phẩm. Tình trạng lo âu quá mức làm giảm chất lượng cuộc sống (QoL) 12 và liên quan đến các bệnh lý sức khỏe tâm thần đồng mắc cũng như các hành vi rối loạn chức năng. Trong thực tế lâm sàng, ảnh hưởng của dị ứng thực phẩm đối với sức khỏe tâm thần của trẻ thường được người chăm sóc và các bác sĩ lâm sàng đánh giá là đáng kể 20.
Chất lượng cuộc sống
Nhìn chung, các dữ liệu cho thấy trẻ mắc dị ứng thực phẩm và cha mẹ/người chăm sóc các em có chất lượng cuộc sống thấp hơn so với dân số chung. Nỗi sợ phản vệ cũng như sự cảnh giác liên tục cần thiết để phòng tránh việc vô tình tiếp xúc với dị nguyên có thể gây áp lực đáng kể lên trẻ mắc dị ứng thực phẩm và những người chăm sóc trẻ.
Các nghiên cứu so sánh tác động của dị ứng thực phẩm lên điểm số lo âu hoặc chất lượng cuộc sống do chính bệnh nhân (chủ yếu là thanh thiếu niên) tự báo cáo cho thấy rằng, các tác động cảm xúc ở bệnh nhân dị ứng thực phẩm không dễ dàng so sánh với những ảnh hưởng gặp phải trong các quá trình bệnh lý khác 11. Các biểu hiện lâm sàng của dị ứng thực phẩm chủ yếu mang tính chất từng đợt, vì bệnh thường không bộc lộ rõ ràng cho đến khi xảy ra phản ứng dị ứng. Đặc điểm riêng biệt này của dị ứng thực phẩm có thể góp phần làm tăng mức độ lo âu (về nguy cơ xảy ra phản ứng cấp tính), nhưng cũng có thể dẫn đến tác động ít hơn đối với các hoạt động xã hội so với các bệnh mạn tính ít mang tính chất từng đợt hơn như đái tháo đường.
Các nghiên cứu so sánh giữa các nhóm trẻ mắc dị ứng thực phẩm với nhau (thay vì so với trẻ không mắc dị ứng) đã chỉ ra các yếu tố bổ sung ảnh hưởng đến sự đau khổ và chất lượng cuộc sống liên quan đến dị ứng thực phẩm, bao gồm: việc kê đơn adrenaline (epinephrine), tiền sử phản vệ và nhận thức về năng lực tự quản lý sức khỏe bản thân 16.
Nhiều nghiên cứu gợi ý rằng dị ứng thực phẩm có tác động lớn hơn đến chất lượng cuộc sống của cha mẹ so với chính những đứa trẻ, ít nhất là ở các nhóm tuổi nhỏ. Một nghiên cứu trên hơn 1.000 phụ huynh có con mắc dị ứng thực phẩm tại Hoa Kỳ cho thấy chất lượng cuộc sống chung của người chăm sóc rất biến thiên, mặc dù họ luôn bày tỏ sự lo ngại về các hạn chế xã hội bắt nguồn từ tình trạng dị ứng thực phẩm của trẻ 8. Trong một khảo sát khác tại Hoa Kỳ trên 253 gia đình có trẻ mắc dị ứng thực phẩm, điểm số của cha mẹ về nhận thức sức khỏe chung, tác động cảm xúc và sự hạn chế trong các hoạt động gia đình thấp hơn đáng kể (tệ hơn) so với các chuẩn mực đã thiết lập 12.
Đồng mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần
Trong cộng đồng nói chung, các rối loạn lo âu thường có tỷ lệ đồng mắc cao với những rối loạn sức khỏe tâm thần khác 21, tình trạng này cũng xuất hiện tương tự ở trẻ mắc dị ứng thực phẩm cùng cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ 22. Trầm cảm là vấn đề cảm xúc được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất liên quan đến lo âu trong nhóm đối tượng này; do đó, các bác sĩ lâm sàng cần lưu ý đến mối liên hệ này.
Cơ chế đối phó bằng cách né tránh
Cơ chế đối phó bằng cách né tránh (avoidance coping) là một phản ứng rối loạn chức năng trước trạng thái lo âu, trong đó người bệnh cố gắng gạt bỏ suy nghĩ và né tránh mọi yếu tố gợi nhớ về tình huống hoặc sự kiện gây lo âu 23. Việc né tránh các yếu tố gợi nhớ gây căng thẳng là một thành phần điển hình của phản ứng sang chấn tâm lý 24 và đặc biệt phổ biến ở bệnh nhân mắc các bệnh lý cơ thể 23. Đây là mô hình hành vi không lành mạnh có thể dẫn đến kết cục lâm sàng xấu; đây cũng là một yếu tố nguy cơ mà các bác sĩ lâm sàng có thể nhận diện và hỗ trợ giảm thiểu 25.
Đối với người bệnh dị ứng thực phẩm, hành vi này có thể biểu hiện qua việc né tránh các cuộc hẹn tái khám, hoặc né tránh suy nghĩ và thực hiện việc mang theo bút tiêm epinephrine tự động. Tình trạng không mang theo bút tiêm khá phổ biến ở lứa tuổi thanh thiếu niên 26 và có lẽ là hậu quả nguy hiểm nhất của cơ chế đối phó bằng cách né tránh. Hiện nay, các chiến lược can thiệp nhằm giảm thiểu hành vi né tránh trong việc mang theo và sử dụng bút tiêm epinephrine đang được nghiên cứu 25.
Cơ chế đối phó bằng cách né tránh cũng có thể ảnh hưởng đến lựa chọn thực phẩm an toàn. Việc né tránh những thực phẩm an toàn thường được ghi nhận khi trẻ trải qua phản ứng phản vệ, dẫn đến việc trẻ hoặc cha mẹ/người chăm sóc “điều chỉnh quá mức” bằng cách loại bỏ các loại thực phẩm vốn an toàn hoặc không thực sự gây nguy hiểm. Điều này dẫn đến những hạn chế trong chế độ ăn uống một cách nghiêm trọng và không cần thiết. Cơ chế đối phó bằng cách né tránh được xem là yếu tố tiềm ẩn ở những bệnh nhân tiếp tục loại bỏ các loại thực phẩm an toàn trong thời gian từ 3 đến 6 tháng sau khi xảy ra phản ứng phản vệ.
CÂN NHẮC TRONG CHẨN ĐOÁN
Khi tiếp cận trẻ hoặc phụ huynh/người chăm sóc trẻ dị ứng thực phẩm có biểu hiện lo âu, điều đầu tiên bác sĩ cần cân nhắc là mức độ lo âu đó là phù hợp hay quá mức. Có ba kịch bản có thể xảy ra:
- Trẻ mắc rối loạn lo âu (rối loạn sức khỏe tâm thần có các tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể).
- Tình trạng lo âu quá mức nhưng chưa đạt tiêu chuẩn chẩn đoán cho một rối loạn cụ thể.
- Mức độ lo âu hoàn toàn phù hợp với tình huống.
Các rối loạn lo âu như rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ và rối loạn ám ảnh cưỡng chế đều có các tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể, được nêu rõ trong Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần, ấn bản lần thứ năm (DSM-5) 3. Các biểu hiện và chẩn đoán của những rối loạn này được trình bày chi tiết trong các tài liệu riêng biệt. (Xem “Rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên: Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và diễn tiến”, “Rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên: Đánh giá và chẩn đoán” và “Rối loạn ám ảnh cưỡng chế ở trẻ em và thanh thiếu niên: Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, diễn tiến, đánh giá và chẩn đoán”.)
Theo nguyên tắc chung, quá trình đánh giá lâm sàng cần tập trung vào sự hiện diện của các triệu chứng và tác động của chúng (xem ‘Tác động của lo âu’ ở trên):
- Các triệu chứng không gây rối loạn chức năng đáng kể (ví dụ: không gây ra hành vi né tránh, không ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống [QoL] hoặc không dẫn đến cô lập xã hội ở trẻ) không nên được xem là một tình trạng bệnh lý cần chẩn đoán. Mặc dù các bác sĩ lâm sàng cần tiếp tục theo dõi các triệu chứng này và có thể đưa ra lời khuyên để cải thiện, nhưng không nên xem đây là một rối loạn hoặc tìm cách loại bỏ hoàn toàn, vì việc triệt tiêu sự lo âu nhẹ có thể dẫn đến những hành vi rủi ro hơn.
- Tình trạng lo âu gây rối loạn chức năng (như hành vi né tránh) cần được xử trí lâm sàng bởi chuyên gia dị ứng, bác sĩ chăm sóc ban đầu, điều dưỡng hoặc chuyên gia tâm thần tùy theo trường hợp, ngay cả khi các triệu chứng không hoàn toàn khớp với bất kỳ rối loạn nào được ghi nhận trong DSM-5. (Xem ‘Sàng lọc và theo dõi’ ở dưới và ‘Quản lý’ ở dưới.)
Một số rối loạn tâm thần được đề xuất có thể phản ánh đúng sự lo âu đặc thù liên quan đến nỗi sợ các sự kiện đe dọa tính mạng mà người mắc dị ứng thực phẩm có thể trải qua (khác biệt so với các bệnh nhân có rối loạn lo âu thông thường). Hiện chưa rõ liệu người bệnh dị ứng thực phẩm có cần các tiêu chuẩn chẩn đoán đặc thù hay không; tuy nhiên, một số tác giả nhấn mạnh rằng rối loạn căng thẳng sau sang chấn và các chứng ám ảnh sợ hãi là những bệnh đồng mắc tiềm tàng ở bệnh nhân biểu hiện lo âu nghiêm trọng 27-29.
TẦM SOÁT VÀ THEO DÕI
Hiện chưa có bằng chứng cho thấy việc tầm soát lo âu ở trẻ em mang lại các lợi ích lâm sàng cụ thể 1. Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo kéo dài một giờ nhằm giúp bác sĩ dị ứng nhận diện tình trạng lo âu ở bệnh nhân cũng không cải thiện đáng kể khả năng phát hiện các triệu chứng này 30.
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn theo dõi chất lượng cuộc sống (QoL) thông qua các bảng câu hỏi hoặc phỏng vấn trực tiếp. Việc giảm thiểu tác động của dị ứng thực phẩm lên sinh hoạt hằng ngày là một mục tiêu điều trị quan trọng; do đó, theo dõi QoL giúp đánh giá mức độ thành công của bác sĩ trong việc hỗ trợ bệnh nhân đạt được mục tiêu này.
Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi cũng chủ động hỏi về cơ chế ứng phó né tránh (avoidance coping) và tình trạng bắt nạt. Việc phát hiện sớm các vấn đề này cho phép bác sĩ can thiệp điều chỉnh hành vi ứng phó kém hiệu quả và loại bỏ các yếu tố gây bắt nạt 27. (Xem ‘Ảnh hưởng của lo âu’ ở phía trên và bài viết “Dị ứng thực phẩm: Ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe”.)
Một số tác giả đã xây dựng các thang đo chuyên biệt nhằm đánh giá tình trạng lo âu trong bối cảnh dị ứng thực phẩm 31-33. Một nghiên cứu cho thấy các thang đo lo âu không đặc hiệu nhưng đã được kiểm chứng không hoàn toàn tương quan với tình trạng “lo âu do dị ứng thực phẩm” ghi nhận trên thang đo trực quan tương tự (visual analog scale) vốn chưa được kiểm chứng 34. Tuy nhiên, để khẳng định giá trị của các thang đo chuyên biệt cho dị ứng thực phẩm, cần có những nghiên cứu so sánh đối đầu giữa các phương pháp tiếp cận khác nhau.
Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của thang đo sức khỏe tâm thần chuyên biệt cho lo âu do dị ứng so với đánh giá chẩn đoán tâm thần toàn diện. Hơn nữa, một nghiên cứu nghiêm ngặt cho thấy các thang đo sức khỏe tâm thần tổng quát vẫn cho kết quả tốt trên đối tượng trẻ em mắc bệnh mạn tính 35. Tương tự, chưa có bằng chứng rõ ràng về nhu cầu điều chỉnh tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn lo âu cho nhóm bệnh nhân này, cũng như chưa có cơ sở khẳng định các thang đo chuyên biệt mang lại ưu thế lâm sàng vượt trội so với các thang đo lo âu chuẩn hóa (phù hợp với lứa tuổi). Cho đến khi có các thử nghiệm đối chứng nghiêm ngặt chứng minh lợi ích lâm sàng, chúng tôi không áp dụng các thang đo này trong thực hành.
Ảnh hưởng của đại dịch COVID-19
Một nghiên cứu khảo sát cho thấy các bà mẹ có con bị dị ứng thực phẩm báo cáo chất lượng cuộc sống thấp và mức độ lo âu cao 36. Tuy nhiên, khi so sánh với nhóm đối chứng (các bà mẹ có con không bị dị ứng thực phẩm), điểm số về lo âu và QoL giữa hai nhóm không có sự khác biệt đáng kể. Đáng chú ý, chính những người tham gia khảo sát này lại cảm thấy việc quản lý dị ứng thực phẩm hằng ngày trở nên tốt hơn trong thời gian đại dịch.
Một nghiên cứu khác đánh giá mức độ lo âu ở bản thân trẻ em cho thấy tình trạng lo âu gia tăng trong giai đoạn đại dịch 37; đây là xu hướng chung của hầu hết các nhóm dân số được khảo sát trong thời kỳ đó. Nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ bắt nạt giảm đi, khả năng cao là do việc chuyển sang học trực tuyến và giảm tương tác tại các môi trường xã hội.
ĐIỀU TRỊ
Chuyển chuyên khoa sức khỏe tâm thần
Việc hội chẩn với chuyên gia sức khỏe tâm thần thường được chỉ định nếu bệnh nhân nghi ngờ hoặc được chẩn đoán mắc rối loạn lo âu. Các rối loạn lo âu có khả năng đáp ứng điều trị rất tốt, do đó cần được can thiệp kịp thời nếu xác định có bệnh. Hiện nay có nhiều lựa chọn điều trị 38,39, bao gồm tâm lý trị liệu (ví dụ: liệu pháp nhận thức – hành vi [CBT]) và điều trị bằng thuốc (ví dụ: thuốc giải lo âu hoặc thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc). (Xem “Tâm lý trị liệu cho các rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên”, “Điều trị dược lý cho các rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên” và “Rối loạn lo âu lan tỏa ở người lớn: Quản lý”).
Tuy nhiên, đa số trẻ em lo âu kèm dị ứng thực phẩm và gia đình/người chăm sóc trẻ thường không mắc phải một rối loạn bệnh lý cụ thể nào 6. Việc ghi nhận mức độ lo âu cao đơn thuần không đủ căn cứ để bắt buộc can thiệp y tế. Quyết định chuyển chuyên khoa là một quyết định lâm sàng, cần được cân nhắc dựa trên các thông số sau: mức độ suy giảm chức năng do lo âu gây ra, sự sẵn có của các chuyên gia sức khỏe tâm thần có khả năng giải quyết vấn đề này, và liệu việc chuyển tuyến có gây ra thông điệp sai lệch cho bệnh nhân (hoặc gia đình/người chăm sóc) khi “gắn nhãn” vấn đề này là một bệnh lý tâm thần thay vì coi đó là một chiến lược đối phó cần điều chỉnh hay không. Việc lạm dụng thuốc (ví dụ: kê đơn thuốc giải lo âu quá mức) tiềm ẩn nguy cơ điều trị quá mức hoặc điều trị không đúng cách 40, do đó, việc chẩn đoán sai các triệu chứng lo âu thành một rối loạn bệnh lý có thể dẫn đến những hệ quả không mong muốn.
Nếu bác sĩ quyết định không chuyển chuyên khoa, việc theo dõi tình trạng lo âu và các hệ quả của nó là cần thiết. Các kỹ thuật khác mà bác sĩ nhi khoa và bác sĩ dị ứng có thể áp dụng sẽ được xem xét dưới đây. (Xem ‘Hỗ trợ tự quản lý’ bên dưới.)
Cho đến nay, câu hỏi liệu việc điều trị tâm lý cho các trường hợp lo âu liên quan đến dị ứng thực phẩm (ở những bệnh nhân có triệu chứng ở mức độ cần chuyển chuyên khoa) có nên khác biệt so với điều trị rối loạn lo âu thông thường hay không vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Một bài tổng quan đã tóm tắt các bằng chứng hiện có về các nỗ lực can thiệp 41. Một số dữ liệu từ các loạt ca bệnh cho thấy liệu trình CBT “đã được điều chỉnh” có thể mang lại hiệu quả nhất định 42. Tuy nhiên, khi chưa có các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi, vẫn chưa rõ liệu có thực sự cần thiết phải thay đổi các kỹ thuật CBT tiêu chuẩn để đạt được kết quả can thiệp tâm lý thành công ở nhóm đối tượng này hay không. Các nhà trị liệu nên chủ động tìm hiểu các chủ đề liên quan đến quản lý dị ứng thực phẩm thông qua tự học hoặc phối hợp với bác sĩ chuyên khoa dị ứng, đội ngũ hoặc trung tâm điều trị dị ứng thực phẩm.
Giáo dục tâm lý
Công tác giáo dục cho bệnh nhân dị ứng thực phẩm cùng cha mẹ hoặc người chăm sóc cần bao gồm các thông tin về bệnh lý dị ứng thực phẩm và cách quản lý bệnh 43,44. Tuy nhiên, việc giáo dục cũng cần đặc biệt nhấn mạnh đến diễn tiến tự nhiên của tình trạng lo âu ở người bệnh dị ứng thực phẩm trong suốt cuộc đời. Khi trẻ lớn lên, trẻ bắt đầu nhận thức rõ hơn về nguy cơ đe dọa tính mạng do dị ứng gây ra, dẫn đến việc trẻ có thể trở nên lo âu gần như “chỉ sau một đêm” mà không cần bất kỳ tác nhân cụ thể nào kích hoạt. Đây là một hiện tượng còn ít được chú ý và chưa được nghiên cứu đầy đủ; do đó, các nỗ lực giáo dục chuyên biệt nhằm khơi gợi những lo sợ này, cùng các cuộc thảo luận cởi mở về tình trạng lo âu, hệ quả và diễn tiến tự nhiên của tâm lý khi trẻ lớn lên – đặc biệt là giai đoạn đầu tuổi thiếu niên – có thể giúp ngăn ngừa các lo lắng và tạo điều kiện cho các trao đổi thẳng thắn giữa trẻ và cha mẹ hoặc người chăm sóc về cảm xúc của trẻ.
Các tài liệu giáo dục dành cho cha mẹ/người chăm sóc và trẻ em hiện đã có sẵn trực tuyến và có thể được sử dụng để hỗ trợ các cuộc thảo luận này với bệnh nhân và gia đình sau khi trải qua một phản ứng phản vệ.
Thúc đẩy khả năng tự quản lý bệnh
Tương tự như các bệnh mạn tính khác, giai đoạn chuyển tiếp sang tự chăm sóc ở thanh thiếu niên và người trẻ tuổi là khoảng thời gian tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với bệnh nhân dị ứng thực phẩm 26,45. Các nỗ lực cải thiện kỹ năng tự quản lý có thể hỗ trợ hiệu quả cho những bệnh nhân chưa hình thành được kỹ năng này do lo âu, e ngại hoặc các rào cản tâm lý khác.
Ví dụ, một thanh thiếu niên có thể quyết định không mang theo bút tiêm epinephrine vì đó là lời nhắc nhở gây căng thẳng về tình trạng dị ứng của bản thân, đặc biệt nếu việc tự tiêm gây ra áp lực tâm lý. Bác sĩ lâm sàng có thể giải quyết vấn đề này bằng cách:
- Thảo luận cởi mở về việc tránh tiếp xúc dị nguyên và các hệ quả tiềm ẩn.
- Sử dụng mô hình “tiếp xúc” (exposure paradigm), trong đó bệnh nhân được yêu cầu thực hiện thao tác tự tiêm tại phòng khám với một ống tiêm rỗng 25.
- Tham gia vào một hoạt động an toàn nhưng gây căng thẳng nhẹ tại phòng khám (ví dụ: thực hiện thử thách thức ăn, nếu có chỉ định) 46.
Kỹ thuật này dựa trên thành phần “tiếp xúc” trong liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) dành cho các rối loạn lo âu. Những mô hình tiếp xúc này có thể làm tăng cảm giác lo âu trong giai đoạn đầu, nhưng sau đó sẽ giúp giảm bớt lo âu và cải thiện chất lượng cuộc sống (QoL) của bệnh nhân 25,47. (Xem “Trị liệu tâm lý cho các rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên”, mục ‘Tiếp xúc’.)
Tương tự, bệnh nhân, đặc biệt là trong giai đoạn dậy thì, có thể quá lo lắng về việc tiếp xúc tình cờ (ví dụ: chạm vào dị nguyên), ngay cả khi mức độ tiếp xúc đó không đủ khả năng khởi phát phản ứng dị ứng 26,48. Việc giáo dục chi tiết về sự khác biệt giữa tiếp xúc thông thường (ví dụ: chạm vào) và việc thực sự ăn phải dị nguyên có thể giúp giảm bớt sự lo âu này.
Vai trò của cha mẹ/người chăm sóc
Sự giám sát và hỗ trợ từ cha mẹ/người chăm sóc đóng vai trò thiết yếu để đạt được kết quả điều trị tối ưu cho trẻ. Do đó, cha mẹ/người chăm sóc cần tham gia vào mọi kế hoạch cải thiện tình trạng lo âu của trẻ. Cha mẹ/người chăm sóc có thể tham gia vào các can thiệp nhắm tới trẻ, hoặc chính họ cũng có thể là đối tượng cần được can thiệp nếu tình trạng lo âu của họ gây ảnh hưởng đến chức năng hàng ngày. Việc điều trị lo âu cho cha mẹ/người chăm sóc được chỉ định bất cứ khi nào tình trạng lo âu này gây đau khổ hoặc suy giảm chức năng đáng kể 49.
TIÊN LƯỢNG
Mặc dù chưa có kết luận chắc chắn về việc liệu tình trạng lo âu liên quan đến dị ứng thực phẩm có cải thiện theo thời gian ở trẻ em và cha mẹ/người chăm sóc hay không, nhưng trong hầu hết các trường hợp, nếu được chăm sóc phù hợp, tình trạng lo âu ở trẻ em, thanh thiếu niên dị ứng thực phẩm cùng gia đình đều có xu hướng cải thiện dần theo thời gian.