TÓM TẮT
Biểu hiện lâm sàng
- Bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đường niệu bàng quang thường biểu hiện bằng đái máu đại thể không đau. Sự hiện diện của tình trạng đái máu chưa rõ nguyên nhân ở người trưởng thành đòi hỏi phải được đánh giá dựa trên nguy cơ ác tính. Nguy cơ này chịu ảnh hưởng bởi độ tuổi, giới tính của người bệnh, sự hiện diện của đái máu đại thể hay vi thể, và tiền sử hút thuốc lá. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới và ‘Đái máu’ ở dưới).
Đánh giá chẩn đoán
Nội soi bàng quang
- Nội soi bàng quang là thủ thuật đầu tay cho cả mục đích chẩn đoán và điều trị ác tính đường niệu. Nội soi bàng quang được sử dụng để thiết lập chẩn đoán, đánh giá xem có sự xâm lấn cơ hay không (hình 1), đồng thời cung cấp phương pháp điều trị ban đầu cho các tổn thương không xâm lấn lớp cơ. (Xem ‘Nội soi bàng quang’ ở dưới).
Tế bào học nước tiểu
- Tế bào học nước tiểu được sử dụng rộng rãi kết hợp với nội soi bàng quang để đánh giá sự hiện diện của ung thư biểu mô tại chỗ (CIS) và tầm soát các tổn thương đường tiết niệu trên. (Xem ‘Tế bào học nước tiểu’ ở dưới).
Chẩn đoán hình ảnh cắt lớp vi tính (CT)
- Chụp cắt lớp vi tính (CT) là kỹ thuật hình ảnh được ưu tiên lựa chọn để đánh giá mức độ lan rộng tại chỗ của bệnh và khảo sát sâu hơn bể thận cùng niệu quản. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh đường niệu’ ở dưới và “Các bệnh lý ác tính bể thận và niệu quản”).
Xếp giai đoạn
- Giai đoạn bệnh là yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng nhất để đánh giá khả năng tiến triển và tỷ lệ sống còn. Tiêu chuẩn tiếp cận hiện hành là hệ thống xếp giai đoạn khối u, hạch, di căn (TNM), vốn đòi hỏi phải thực hiện cắt bỏ bàng quang (bảng 1). Đối với những bệnh nhân sẽ trải qua điều trị tân hỗ trợ, việc xếp giai đoạn lâm sàng là phù hợp. (Xem ‘Xếp giai đoạn’ ở dưới).
Điều trị
- Tổng quan về điều trị ung thư bàng quang được trình bày ở một phần riêng biệt. (Xem “Tổng quan về xử trí ban đầu ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp bàng quang”).
