Xơ cứng rải rác: Chăm sóc trong thai kỳ và hậu sản

TÓM TẮT

Quản lý trong thai kỳ

Sử dụng các DMTs

Theo dõi

  • Cần theo dõi hoạt động bệnh MS của bệnh nhân, bao gồm các đợt cấp (tái phát) và sự xuất hiện của các tổn thương MS mới. Nên hạn chế chỉ định chụp MRI, chỉ thực hiện khi có các biểu hiện lâm sàng gợi ý hoạt động bệnh MS hoặc các bệnh lý kèm theo. Chống chỉ định sử dụng thuốc tương phản từ Gadolinium trong thai kỳ. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới và ‘Chụp MRI trong thai kỳ’ ở dưới.)

Điều trị đợt tái phát cấp

  • Các đợt cấp MS (tái phát) gây ra các triệu chứng gây tàn tật trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba của thai kỳ được điều trị bằng glucocorticoid đường tĩnh mạch. (Xem ‘Quản lý và điều trị trong thai kỳ’ ở dưới.)

Sinh con

  • Phương pháp sinh đối với bệnh nhân MS trong thai kỳ tương tự như đối với dân số chung. Việc lựa chọn phương pháp vô cảm nên dựa trên nguyện vọng của bệnh nhân và các cân nhắc về sản khoa (ví dụ: khả năng phải sinh ngả âm đạo có hỗ trợ bằng kẹp forceps hoặc giác hút do mẹ mệt mỏi trong giai đoạn hai của cuộc chuyển dạ). (Xem ‘Chuyển dạ và sinh con’ ở dưới.)

Những bệnh nhân có tổn thương tủy sống nặng (theo đánh giá của bác sĩ chuyên khoa thần kinh) có nguy cơ gặp tình trạng loạn thần kinh thực vật trong quá trình chuyển dạ. Các nội dung về phòng ngừa, biểu hiện lâm sàng và xử trí được thảo luận chi tiết ở phần riêng. (Xem “Các biến chứng mạn tính của tổn thương và bệnh lý tủy sống”, phần ‘Chứng phản xạ tự động quá mức’.)

Chăm sóc sau sinh

  • Tỷ lệ tái phát MS có thể tăng trong khoảng từ một đến sáu tháng đầu sau sinh. Bệnh nhân MS cần được đánh giá toàn diện sau sinh, bao gồm cả chẩn đoán hình ảnh để thiết lập mức nền MRI mới. Chỉ sử dụng thuốc tương phản từ Gadolinium trong thời kỳ cho con bú khi thực sự cần thiết cho việc quản lý bệnh nhân; để tránh cho trẻ tiếp xúc với gadolinium, bệnh nhân nên thực hiện phương pháp “pump and dump” (tức là hút sữa và bỏ đi) trong vòng 24 giờ sau khi tiêm gadolinium. Chỉ một lượng rất nhỏ gadolinium được bài tiết qua sữa mẹ; do đó, nếu có sự đồng ý của bệnh nhân, họ có thể nhận gadolinium và tiếp tục cho con bú nếu không có nguồn thức ăn nào khác.

Glucocorticoid là lựa chọn điều trị hàng đầu cho các đợt tái phát sau sinh. (Xem “Xơ cứng rải rác: Lên kế hoạch mang thai”, phần ‘Hoạt tính bệnh xơ cứng rải rác trong thai kỳ và sau sinh’ và ‘Thường quy’ ở dưới.)

Cho con bú

  • Vì việc cho con bú mang lại nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ sơ sinh và người mẹ, bệnh nhân MS nên được khuyến khích và hỗ trợ cho con bú. Cho con bú hoàn toàn có liên quan đến việc giảm tỷ lệ tái phát MS sau sinh. Do đó, nhiều bệnh nhân chọn ngưng sử dụng DMTs trong thời gian cho con bú nếu các triệu chứng MS có thể được kiểm soát mà không cần thuốc. Tuy nhiên, việc cho con bú không có tác dụng bảo vệ mạnh mẽ như khi mang thai, và đối với những bệnh nhân có bệnh tiến triển nặng, các DMTs có khả năng an toàn khi cho con bú bao gồm interferon (IFN)-beta, glatiramer acetate, và có thể là các kháng thể đơn dòng làm cạn kiệt tế bào B (bảng 1). (Xem ‘Nuôi con bằng sữa mẹ và bệnh xơ cứng rải rác (MS)’ ở dưới.)

Khởi động lại DMT

  • Đối với những bệnh nhân không cho con bú, nên khởi động lại DMT trong vòng 10 ngày sau sinh (theo ý kiến đồng thuận), đồng thời cần cân nhắc các nguy cơ nhiễm trùng hoặc huyết khối ở người mẹ. (Xem ‘Nguy cơ tái phát và phòng ngừa’ ở dưới.)

Biện pháp tránh thai

  • Các phương pháp tránh thai đảo ngược có hiệu quả cao và có tác dụng kéo dài (ví dụ: dụng cụ tử cung, que cấy tránh thai) có lẽ là lựa chọn tốt nhất. Các phương pháp này không gây tương tác với DMT và phù hợp với việc cho con bú. (Xem ‘Biện pháp tránh thai’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here