TÓM TẮT
- Phân loại: Phân chia bệnh vi mạch huyết khối do thuốc (DITMA) thành các hội chứng qua trung gian miễn dịch và hội chứng không qua trung gian miễn dịch. (Xem ‘Thuật ngữ’ ở dưới.)
- Cơ chế: DITMA qua trung gian miễn dịch có thể xảy ra sau khi tiếp xúc với một lượng nhỏ chất thông qua cơ chế phụ thuộc kháng thể (hình 1). DITMA không qua trung gian miễn dịch có nhiều cơ chế khác nhau và thường phụ thuộc vào liều lượng. (Xem ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
- Các thuốc liên quan: Các thuốc thường liên quan nhất đến DITMA được liệt kê trong bảng (bảng 1). (Xem ‘Các thuốc liên quan đến DITMA’ ở dưới.)
- Qua trung gian miễn dịch: Nguyên nhân bao gồm các thuốc kháng vi sinh vật, gemcitabine, oxaliplatin, quetiapine và các thuốc điều hòa miễn dịch. (Xem ‘Các thuốc (cơ chế miễn dịch)’ ở dưới.)
- Không qua trung gian miễn dịch: Các nguyên nhân phổ biến bao gồm interferon loại 1, infliximab, một số liệu pháp điều trị ung thư (bevacizumab, dasatinib, gemcitabine, ponatinib, thuốc ức chế proteasome, sunitinib), thuốc ức chế calcineurin (cyclosporine, tacrolimus), và các chất gây nghiện bất hợp pháp hoặc lạm dụng opioid (cocaine, sử dụng oxycodone hoặc oxymorphone giải phóng kéo dài qua đường tĩnh mạch). (Xem ‘Các thuốc (cơ chế không qua trung gian miễn dịch)’ ở dưới.)
- Biểu hiện lâm sàng:
- Qua trung gian miễn dịch: Khởi phát đột ngột các triệu chứng rét run, sốt, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn/nôn, và/hoặc hạ huyết áp trong vòng vài giờ sau khi tiếp xúc với thuốc (có thể là thuốc dùng không thường xuyên trong nhiều năm hoặc thuốc mới dùng trong khoảng hai đến ba tuần). (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng của DITMA qua trung gian miễn dịch’ ở dưới.)
- Không qua trung gian miễn dịch: Yếu cơ, mệt mỏi, đau đầu và/hoặc suy thận tiến triển dần trong vài tuần đến vài tháng. DITMA do các chất gây nghiện bất hợp pháp hoặc lạm dụng opioid có thể gây ra các triệu chứng toàn thân khởi phát đột ngột và tổn thương thận cấp (AKI). (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng của DITMA không qua trung gian miễn dịch’ ở dưới.)
- Xét nghiệm cận lâm sàng: Các xét nghiệm bao gồm tổng phân tích tế bào máu (CBC), xem tiêu bản máu ngoại vi, xét nghiệm tán huyết, chức năng thận và xét nghiệm đông máu. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)
- Chẩn đoán: Chẩn đoán được thực hiện dựa trên lâm sàng với tiền sử tiếp xúc thuốc phù hợp và các dấu hiệu của bệnh vi mạch huyết khối (TMA), bao gồm sự hiện diện của mảnh vỡ hồng cầu trên tiêu bản máu, giảm tiểu cầu và thường kèm theo tổn thương thận. Hoạt độ ADAMTS13 đạt trên 10% đến 20%. Có thể tìm thấy các kháng thể phụ thuộc thuốc trong DITMA qua trung gian miễn dịch. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)
- Chẩn đoán phân biệt: Chẩn đoán phân biệt bao gồm các bệnh TMA nguyên phát khác như xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (TTP) và các nguyên nhân gây tổn thương thận cấp (AKI) khác. TMA do thuốc có hoạt độ ADAMTS13 $\le$ 10% được xem là TTP do thuốc (DI-TTP). (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới và “Biến chứng sớm của ghép tế bào tạo máu”, phần ‘Bệnh vi mạch huyết khối’ và “Tiếp cận chẩn đoán khi nghi ngờ TTP, HUS hoặc các bệnh vi mạch huyết khối (TMA) khác” và “Bệnh thận sau ghép tế bào tạo máu”, phần ‘Bệnh vi mạch huyết khối’.)
- Điều trị: Xử trí bao gồm ngừng thuốc và chăm sóc hỗ trợ. Thay huyết tương điều trị (TPE) có thể phù hợp khi chưa chắc chắn về khả năng mắc TTP. Liệu pháp kháng bổ thể có thể phù hợp đối với bệnh nhân có tình trạng suy thận tiến triển nhanh và nghi ngờ TMA qua trung gian bổ thể. Nên hội chẩn sớm với các bác sĩ chuyên khoa. (Xem ‘Các can thiệp ban đầu’ ở dưới và ‘Các liệu pháp nghiên cứu cho DITMA không đáp ứng với việc ngừng thuốc’ ở dưới.)
- Dự phòng: Đối với DITMA qua trung gian miễn dịch, phải tránh tuyệt đối thuốc liên quan suốt đời. Đối với DITMA không qua trung gian miễn dịch, có thể xem xét khả năng tái tiếp xúc trong một số trường hợp chọn lọc. (Xem ‘Tránh thuốc trong tương lai’ ở dưới.)
- Hồi phục: Quá trình hồi phục có thể không hoàn toàn do tổn thương thận có thể rất nghiêm trọng. Tình trạng giảm tiểu cầu bắt đầu cải thiện trong vòng vài ngày. (Xem ‘Tiên lượng/hồi phục dự kiến’ ở dưới.)
