TÓM TẮT
Lựa chọn biện pháp tránh thai
- Việc lựa chọn phương pháp tránh thai tối ưu cho phụ nữ mắc lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và/hoặc hội chứng kháng phospholipid (APS) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm các giá trị và sở thích của bệnh nhân, hiệu quả và tác dụng phụ của các phương pháp tránh thai, mức độ hoạt động của bệnh nền, các bệnh đồng mắc khác, nguy cơ thuyên tắc huyết khối và tương tác thuốc. Ngoài ra, bất kỳ nguy cơ nào liên quan đến một phương pháp tránh thai cũng cần được cân nhắc so với nguy cơ mang thai ngoài ý muốn của từng bệnh nhân cụ thể. (Xem ‘Các yếu tố cần xem xét’ ở dưới.)
Lưu ý đối với từng phương pháp cụ thể
Khi hỗ trợ phụ nữ mắc SLE và APS bắt đầu sử dụng biện pháp tránh thai, chúng tôi đề xuất các hướng dẫn sau (bảng 2) (xem ‘Cách tiếp cận tổng thể của chúng tôi’ ở dưới):
Nhóm ưu tiên các biện pháp tránh thai dài hạn (LARC)
- Đối với những bệnh nhân muốn sử dụng các biện pháp tránh thai dài hạn có thể đảo ngược (LARC), chúng tôi đề xuất sử dụng dụng cụ tử cung (IUD) chứa levonorgestrel (LNG) thay vì các lựa chọn LARC khác (Khuyến cáo 2C). IUD chứa LNG là một lựa chọn an toàn và hiệu quả cho hầu hết bệnh nhân SLE và/hoặc có kháng thể kháng phospholipid (aPLs) dương tính. Hơn nữa, phương pháp này không làm tăng nguy cơ huyết khối hay làm giảm mật độ xương, đồng thời có thể giúp giảm lượng máu kinh. (Xem ‘Dụng cụ tử cung’, ‘Tránh thai dài hạn có thể đảo ngược và ‘Nguy cơ thuyên tắc huyết khối và progestin ở dưới.)
Nhóm ưu tiên thuốc tránh thai nội tiết đường uống
- Đối với những bệnh nhân có bệnh ổn định với mức độ hoạt động thấp và đã được xác định là có aPL âm tính muốn sử dụng thuốc tránh thai nội tiết đường uống, chúng tôi đề xuất sử dụng các thuốc tránh thai kết hợp estrogen-progestin (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi khuyến cáo tránh sử dụng miếng dán qua da và các phương pháp tránh thai kết hợp estrogen-progestin có hàm lượng estrogen cao nhằm giảm thiểu nguy cơ thuyên tắc huyết khối và tim mạch (Khuyến cáo 2C). Vòng tránh thai âm đạo được cho là cung cấp nồng độ estrogen trong huyết thanh tương đương với thuốc viên tránh thai kết hợp estrogen-progestin, tuy nhiên hiện chưa có dữ liệu về việc sử dụng phương pháp này trên bệnh nhân SLE. (Xem ‘Nguy cơ thuyên tắc huyết khối và estrogen’ ở dưới.)
- Đối với những bệnh nhân có mức độ hoạt động bệnh cao, có kháng thể aPL, hoặc tình trạng bất động kéo dài (ví dụ: sau phẫu thuật), chúng tôi đề xuất sử dụng các biện pháp tránh thai chỉ chứa progestin (ngoại trừ depomedroxyprogesterone acetate [DMPA]) và dụng cụ tử cung (IUD) (Khuyến cáo 2C). Lưu ý rằng, các biện pháp tránh thai chỉ chứa progestin có tỷ lệ ngừng sử dụng cao hơn do tình trạng xuất huyết bất thường, vì vậy cần tư vấn trước cho bệnh nhân về vấn đề này. (Xem ‘Các biện pháp tránh thai chỉ chứa progestin’ ở dưới.)
Chúng tôi khuyến cáo tránh sử dụng thuốc tránh thai kết hợp estrogen-progestin ở những bệnh nhân có tăng nguy cơ huyết khối.
Phụ nữ đang sử dụng các thuốc làm tăng kali huyết thanh hoặc làm thay đổi chức năng thận (như thuốc ức chế men chuyển [ACE]), hoặc phụ nữ có suy giảm chức năng thận, cần được theo dõi sát nồng độ kali huyết thanh nếu sử dụng thuốc tránh thai đường uống chứa drospirenone. (Xem ‘Thuốc tránh thai kết hợp estrogen-progestin’ ở dưới.)
Các biện pháp rào cản
- Các biện pháp rào cản là phương pháp tránh thai ít hiệu quả nhất và chỉ nên được dành riêng cho các trường hợp cần tránh sử dụng thuốc tránh thai nội tiết hoặc IUD, hoặc khi bệnh nhân không chấp nhận các phương pháp này, hoặc để sử dụng như một phương pháp bổ trợ nhằm ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục. (Xem ‘Các biện pháp tránh thai rào cản và tránh thai quanh giao hợp’ ở dưới.)