Kích thích tủy sống: Kỹ thuật đặt và quản lý

TÓM TẮT

Chỉ định kích thích tủy sống (SCS)

Kích thích tủy sống (SCS) là một kỹ thuật điều biến thần kinh có thể được chỉ định trong điều trị đau mạn tính do bệnh lý thần kinh và đau qua trung gian giao cảm. (Xem ‘Chỉ định và hiệu quả’ ở dưới.)

SCS đạt hiệu quả cao nhất đối với đau rễ thần kinh liên quan đến hội chứng thất bại sau phẫu thuật cột sống (FBSS), hội chứng đau vùng phức tạp (CRPS), đau do thiếu máu cục bộ chi và bệnh lý tim mạch thiếu máu cục bộ. (Xem ‘Chỉ định và hiệu quả’ ở dưới.)

Các dạng SCS mới hơn (ví dụ: kích thích dạng xung – burst, kích thích tần số cao [HF], kích thích đa mục tiêu vi sai) không yêu cầu tạo cảm giác dị cảm để đạt hiệu quả và có thể mang lại khả năng giảm đau tối ưu hơn cho một số tình trạng bệnh lý. (Xem ‘Chỉ định và hiệu quả’ và ‘Máy tạo xung cấy ghép’ ở dưới.)

Cần sàng lọc bệnh nhân về các bệnh đồng mắc có thể làm tăng nguy cơ biến chứng hoặc gây khó khăn về kỹ thuật, bao gồm tình trạng rối loạn đông máu (bảng 1, bảng 2 và bảng 3). (Xem ‘Sàng lọc bệnh nhân’ ở dưới.)

Đặt hệ thống SCS

Hệ thống SCS bao gồm các dây dẫn (leads) được đặt qua da hoặc qua phẫu thuật vào khoang ngoài màng cứng và các máy tạo xung cấy ghép (IPG) chạy bằng pin (hình 6, hình 4 và ảnh 1). (Xem ‘Trang thiết bị’ ở dưới.)

Quá trình đặt SCS gồm hai giai đoạn. Giai đoạn dùng thử (trial) được thực hiện trước, theo sau là cấy ghép vĩnh viễn nếu kết quả dùng thử thành công. (Xem ‘Kỹ thuật’ ở dưới.)

Hầu hết các trường hợp dùng thử SCS được thực hiện dưới gây tê tại chỗ, có hoặc không kèm theo an thần. Giai đoạn cấy ghép vĩnh viễn có thể được thực hiện dưới sự chăm sóc gây mê có theo dõi (MAC) hoặc gây mê toàn thân (GA), tùy thuộc vào nhu cầu phản hồi từ bệnh nhân và các yếu tố lâm sàng liên quan. Đối với phần lớn bệnh nhân, chúng tôi ưu tiên sử dụng MAC thay vì GA để cho phép bệnh nhân báo cáo các cảm giác đau có thể cảnh báo tổn thương thần kinh; trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng GA, cần kết hợp với theo dõi thần kinh trong mổ. (Xem ‘Gây mê cho quá trình đặt thiết bị kích thích tủy sống’ ở dưới.)

Biến chứng

  • Đa số biến chứng của SCS ở mức độ nhẹ (ví dụ: di lệch dây dẫn), mặc dù đôi khi vẫn cần điều chỉnh lại dây dẫn hoặc tháo bỏ thiết bị. Tụ máu ngoài màng cứng cột sống (SEN), chấn thương tủy sống và áp xe ngoài màng cứng là những biến chứng hiếm gặp nhưng có thể gây hậu quả nghiêm trọng. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Các lưu ý quanh phẫu thuật cho bệnh nhân có SCS

  • (Xem ‘Gây mê cho bệnh nhân đã có thiết bị kích thích tủy sống’ ở dưới):
  • Nên sử dụng dao điện lưỡng cực (bipolar) bất cứ khi nào có thể. Nếu bắt buộc phải dùng dao điện đơn cực (monopolar), thiết bị kích thích tủy sống cần được kiểm tra rò rỉ và tắt nguồn; đồng thời, tấm tiếp mát (dispersive electrode) phải được đặt càng xa máy tạo xung càng tốt.
  • Gây tê vùng (gây tê ngoài màng cứng/tủy sống) có thể trở nên khó khăn hoặc không khả thi sau khi đặt SCS.
  • Cần xác nhận tính tương thích với chụp cộng hưởng từ (MRI) và tuân thủ khuyến cáo của nhà sản xuất đối với bệnh nhân cần chụp MRI trong giai đoạn quanh phẫu thuật.

Bệnh nhân mang thai

  • Thiết bị kích thích tủy sống không được chỉ định đặt cho phụ nữ mang thai. Đối với bệnh nhân đã có sẵn thiết bị và sau đó mang thai, các lựa chọn gây tê, giảm đau vùng thần kinh trung ương có thể bị ảnh hưởng bởi thiết bị này. (Xem ‘Thai kỳ’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here