TÓM TẮT
Nhiễm trùng không triệu chứng
- Đa số các trường hợp nhiễm Chlamydia trachomatis không có triệu chứng. Tình trạng này chủ yếu xảy ra tại cổ tử cung, niệu đạo và trực tràng. Mặc dù một số trường hợp nhiễm trùng không triệu chứng có thể tự khỏi, nhưng các dữ liệu hạn chế cho thấy nhiễm trùng nếu không được điều trị có thể kéo dài nhiều năm. (Xem ‘Thời kỳ ủ bệnh và sự tồn tại không triệu chứng’ ở dưới.)
Các hội chứng đường tiết niệu – sinh dục
- Hầu hết các trường hợp nhiễm trùng có triệu chứng đều xảy ra tại đường tiết niệu – sinh dục:
Viêm cổ tử cung
- Khi có triệu chứng, các biểu hiện điển hình bao gồm tiết dịch âm đạo, xuất huyết âm đạo bất thường và tiết dịch nội cổ tử cung dạng mủ (hình 1) khi thăm khám. Các tình trạng nhiễm trùng đồng thời ở niệu đạo (đôi khi gây tiểu rắt và tiểu buốt) và/hoặc trực tràng cũng thường gặp. (Xem ‘Viêm cổ tử cung’ ở dưới.)
Viêm vùng chậu (PID)
- Nhiễm trùng cổ tử cung không được điều trị có thể tiến triển thành viêm vùng chậu (PID). Các triệu chứng điển hình như đau bụng/vùng chậu và đau khi di động cổ tử cung/đau tử cung/đau phần phụ có thể không rõ ràng; tình trạng viêm quanh gan cũng có thể xảy ra. PID do C. trachomatis có liên quan đến tỷ lệ vô sinh do tắc vòi trứng, thai ngoài tử cung và đau vùng chậu mạn tính tương đối cao. (Xem ‘Viêm vùng chậu’ ở dưới.)
Viêm niệu đạo
- Khi có triệu chứng, các đặc điểm lâm sàng bao gồm tiết dịch niệu đạo dạng nhầy hoặc trong và tiểu buốt, khởi phát khoảng 5 đến 10 ngày sau khi tiếp xúc. (Xem ‘Viêm niệu đạo’ ở dưới.)
Viêm mào tinh hoàn
- Bệnh nhân có biểu hiện đau tinh hoàn một bên và sưng mào tinh hoàn có thể sờ thấy; thường kèm theo tình trạng nhiễm trùng niệu đạo không triệu chứng. (Xem ‘Viêm mào tinh hoàn’ ở dưới.)
Các hội chứng ngoài sinh dục
Viêm trực tràng
- Các type huyết thanh L1, L2 và L3 của C. trachomatis gây bệnh lymphogranuloma venereum (LGV), có thể gây viêm trực tràng với triệu chứng lâm sàng rõ rệt (đau, mót rặn, tiết dịch hậu môn – trực tràng), chủ yếu ở nam quan hệ tình dục đồng giới nam (MSM). Nhiễm trùng trực tràng do các type huyết thanh không thuộc nhóm LGV thường không có triệu chứng. (Xem ‘Viêm trực tràng và nhiễm trùng trực tràng’ ở dưới.)
Viêm kết mạc
- Viêm kết mạc do C. trachomatis lây truyền qua đường tình dục thường biểu hiện bằng tình trạng sung huyết kết mạc đỏ, không mủ, bề mặt kết mạc có thể sần sùi (hình 4). (Xem ‘Viêm kết mạc’ ở dưới.)
Viêm khớp phản ứng
- C. trachomatis là tác nhân lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất liên quan đến viêm khớp phản ứng. Tình trạng nhiễm trùng trước đó thường không có triệu chứng. (Xem ‘Viêm khớp phản ứng/Tam chứng viêm khớp phản ứng (RAT)’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt
- Các đặc điểm lâm sàng đơn thuần không thể phân biệt các hội chứng do C. trachomatis gây ra với các hội chứng do các tác nhân khác. Xét nghiệm vi sinh là yếu tố thiết yếu để chẩn đoán. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Đối tượng cần xét nghiệm
- Bất kỳ cá nhân nào có hoạt động tình dục và có các dấu hiệu, triệu chứng phù hợp với hội chứng chlamydia vùng hậu môn – sinh dục (ví dụ: viêm cổ tử cung, PID, viêm niệu đạo, viêm mào tinh hoàn, viêm trực tràng) đều nên được làm xét nghiệm chẩn đoán C. trachomatis như một phần của quá trình đánh giá. (Xem ‘Đối tượng cần xét nghiệm’ ở dưới.)
Ngoài ra, những đối tượng có nguy cơ sau đây cũng cần xét nghiệm C. trachomatis, bất kể có triệu chứng hay không:
- Các cá nhân có hoạt động tình dục thuộc các nhóm có tỷ lệ nhiễm cao (ví dụ: bệnh nhân có cổ tử cung < 25 tuổi, nam quan hệ tình dục đồng giới nam, người nhiễm NIV) (bảng 1)
- Cá nhân có tiền sử quan hệ tình dục có nguy cơ tiếp xúc cao (ví dụ: có bạn tình mới, có nhiều bạn tình, quan hệ tình dục đổi chác)
- Cá nhân đã được xác định nhiễm N. gonorrhoeae
- Cá nhân mới được điều trị nhiễm C. trachomatis (khoảng 3 đến 12 tháng trước)
Việc tầm soát các bệnh lây truyền qua đường tình dục được thảo luận chi tiết ở phần khác. (Xem “Tầm soát các bệnh lây truyền qua đường tình dục”, phần ‘Khuyến cáo tầm soát’”.)
Xét nghiệm chẩn đoán
- Xét nghiệm lựa chọn cho nhiễm trùng đường tiết niệu – sinh dục là xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAAT) từ bệnh phẩm phết dịch âm đạo (đối với bệnh nhân nữ) hoặc nước tiểu lấy đoạn đầu (10 mL đầu tiên của dòng chảy ban đầu, không rửa trước đó) (đối với bệnh nhân nam). Nhiễm trùng trực tràng được chẩn đoán bằng NAAT từ bệnh phẩm phết trực tràng. Bệnh nhân có thể tự lấy mẫu phết. (Xem ‘Xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (xét nghiệm lựa chọn)’ ở dưới.)
NAAT thường không cho kết quả ngay trong ngày; bệnh nhân có các dấu hiệu hoặc triệu chứng nhiễm C. trachomatis thường được điều trị theo kinh nghiệm trong khi chờ kết quả xác nhận. (Xem “Viêm cổ tử cung cấp tính”, phần ‘Các phương pháp điều trị’, “Viêm vùng chậu: Điều trị ở người lớn và trẻ vị thành niên”, phần ‘Lựa chọn kháng sinh’, “Viêm niệu đạo ở người lớn và trẻ vị thành niên”, phần ‘Liệu pháp ban đầu’ và “Đánh giá các triệu chứng hậu môn – trực tràng ở nam quan hệ tình dục đồng giới nam”, phần ‘Xử trí’.)
Xét nghiệm lậu
- Nhìn chung, khi chỉ định xét nghiệm C. trachomatis, cũng nên thực hiện xét nghiệm N. gonorrhoeae. Hai tác nhân này gây ra các hội chứng lâm sàng tương tự và tình trạng đồng nhiễm rất phổ biến. (Xem “Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán nhiễm Neisseria gonorrhoeae ở người lớn và trẻ vị thành niên”, phần ‘Tiếp cận chẩn đoán’.)
