TÓM TẮT
Định nghĩa về hội chứng chèn ép vai – Hội chứng chèn ép vai (SIS) điển hình là một bệnh lý mạn tính, xảy ra khi các mô mềm liên tục bị chèn ép giữa chỏm xương cánh tay và mỏm cùng vai trong quá trình vận động đưa cánh tay lên cao. Một phân thể đặc biệt của SIS gọi là chèn ép trong, thường gặp ở các vận động viên thường xuyên đưa tay quá đầu (ví dụ: vận động viên ném bóng, tennis), đặc trưng bởi sự chèn ép sụn viền phía trên sau và mặt dưới gân chóp xoay bởi chỏm xương cánh tay và phần trên sau của ổ chảo. (Xem “Hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai”.)
Mục tiêu phục hồi chức năng – Phục hồi chức năng SIS đòi hỏi một kế hoạch cụ thể, bao gồm các bài tập phù hợp và lộ trình tăng dần cường độ. Kế hoạch phục hồi chức năng tổng quát cho SIS được mô tả trong nội dung văn bản, xoay quanh bốn mục tiêu chính (xem ‘Nguyên tắc phục hồi chức năng’ và ‘Chương trình phục hồi chức năng’ ở dưới):
- Tăng cường sức mạnh các cơ ổn định xương bả vai ‒ Việc tăng cường các cơ ổn định xương bả vai giúp tạo sự ổn định tốt hơn cho các cơ chóp xoay (vốn có điểm bám nguyên ủy tại xương bả vai). Sự ổn định này cho phép các cơ chóp xoay hoạt động hiệu quả hơn, tăng sức bền cơ và cải thiện tổng thể chức năng khớp vai. (Xem ‘Bước một: Cải thiện sự ổn định xương bả vai’ ở dưới.)
- Điều chỉnh sự mất cân bằng về sức mạnh và tầm vận động tại khớp ổ chảo – cánh tay, tập trung vào các cơ chóp xoay và tình trạng co cứng bao khớp vai phía sau ‒ Thông thường, trước khi phục hồi, các cơ vùng trước của phức hợp vai (cơ delta trước, cơ xoay trong [như cơ dưới vai]) thường mạnh hơn đáng kể so với các cơ vùng sau (cơ delta sau, các cơ xoay ngoài). (Xem ‘Bước hai: Cải thiện tầm vận động’ và ‘Bước ba: Tăng cường sức mạnh cơ chóp xoay’ ở dưới.)
- Ổn định các nhóm cơ vận động phụ của phức hợp vai ‒ Khi các nhóm cơ vận động chính của vai đã khỏe và hoạt động ổn định, bước tiếp theo là phục hồi các cơ vận động phụ để cải thiện khả năng phối hợp của toàn bộ phức hợp vai. (Xem ‘Bước bốn: Cải thiện sức mạnh và khả năng phối hợp tổng thể của phức hợp vai’ ở dưới.)
- Điều chỉnh các mất cân bằng, suy yếu và rối loạn chức năng tại bất kỳ phân đoạn nào trong chuỗi động học. (Xem ‘Bước năm: Cải thiện sức mạnh, tầm vận động và khả năng phối hợp trong toàn bộ chuỗi động học’ ở dưới.)
Hoàn tất quá trình phục hồi chức năng – Việc hoàn thành thành công chương trình phục hồi chức năng SIS thường kéo dài từ 8 đến 16 tuần, tuy nhiên thông thường bệnh nhân sẽ thấy cải thiện trong 3 đến 4 tuần đầu. Một bệnh nhân hoàn tất thành công chương trình phục hồi chức năng SIS cần đạt được tầm vận động khớp ổ chảo – cánh tay đầy đủ, không đau, đồng thời thực hiện được tất cả các vận động chức năng và bài tập trong chương trình mà không gặp đau. Việc hướng dẫn bệnh nhân về tư thế đúng, cách vận động và công thái học là rất quan trọng để giảm nguy cơ tái phát (bảng 1). (Xem ‘Bước sáu: Hỗ trợ quay trở lại thể thao và hoạt động bình thường’ ở dưới.)
