Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán nhiễm Parvovirus B19

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Phổ biểu hiện lâm sàng – Biểu hiện lâm sàng của nhiễm parvovirus B19 rất đa dạng, từ lành tính đến đe dọa tính mạng, tùy thuộc vào độ tuổi cũng như tình trạng huyết học và miễn dịch của người bệnh. Năm hội chứng điển hình liên quan đến nhiễm parvovirus B19 bao gồm: hồng ban nhiễm trùng, bệnh lý khớp, cơn suy tủy thoáng qua, nhiễm trùng bào thai và thiếu máu đơn dòng dòng hồng cầu ở người suy giảm miễn dịch. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)

Thời kỳ ủ bệnh và thời kỳ lây truyền – Bệnh nhân nhiễm parvovirus B19 có khả năng lây lan mạnh nhất trong giai đoạn virus nhân lên và đào thải tích cực, thường xảy ra từ 5 đến 10 ngày sau khi tiếp xúc và kéo dài khoảng 5 ngày. Khi các triệu chứng phát ban và/hoặc bệnh lý khớp xuất hiện, người bệnh không còn khả năng lây nhiễm. (Xem ‘Thời kỳ ủ bệnh và khả năng lây truyền’ ở dưới.)

Các hội chứng lâm sàng đặc trưng

  • Hồng ban nhiễm trùng là bệnh sốt nhẹ, đặc trưng bởi phát ban đỏ vùng má với vùng quanh miệng tương đối nhợt nhạt (phát ban “má bị tát”), sau đó là phát ban dạng lưới ở thân mình và tứ chi (hình 2A-B). Bệnh thường gặp nhất ở trẻ em; đối với người lớn, phát ban thường ít điển hình hơn. (Xem ‘Hồng ban nhiễm trùng’ ở dưới.)
  • Ở người lớn, đặc biệt là phụ nữ, nhiễm parvovirus B19 có thể biểu hiện là viêm khớp cấp tính có hoặc không kèm phát ban. Các triệu chứng khớp thường đối xứng và thường ảnh hưởng nhất đến các khớp nhỏ ở bàn tay, cổ tay, đầu gối và bàn chân. (Xem ‘Đau khớp và/hoặc viêm khớp’ ở dưới.)
  • Nhiễm parvovirus B19 có thể dẫn đến cơn suy tủy thoáng qua, khi việc tạm ngừng quá trình sinh hồng cầu gây ra thiếu máu nặng và các biến chứng liên quan. Tình trạng này có thể xảy ra ở những bệnh nhân có tăng phá hủy hồng cầu (ví dụ: bệnh nhân thiếu máu hồng cầu hình liềm) hoặc giảm sản xuất hồng cầu (ví dụ: thiếu máu thiếu sắt). Kết quả thường ghi nhận số lượng hồng cầu lưới ngoại vi không phát hiện được và nồng độ hemoglobin giảm >30%. Cơn suy tủy thoáng qua thường chỉ xảy ra một lần trong đời một bệnh nhân. (Xem ‘Cơn suy tủy thoáng qua’ ở dưới.)
  • Bệnh nhân suy giảm miễn dịch, chẳng hạn như người ghép tạng hoặc người nhiễm HIV, có thể phát triển nhiễm parvovirus B19 mạn tính hoặc tái hoạt động, dẫn đến thiếu máu đơn dòng dòng hồng cầu và thiếu máu mạn tính nặng do thiếu đáp ứng kháng thể trung hòa virus. Đặc điểm của tình trạng thiếu máu này là giảm đáng kể hồng cầu lưới ngoại vi và xuất hiện các tiền nguyên hồng cầu khổng lồ (giant pronormoblasts) trong tủy xương. (Xem ‘Nhiễm trùng mạn tính ở vật chủ suy giảm miễn dịch’ ở dưới.)
  • Nhiễm parvovirus B19 trong thời kỳ mang thai có thể dẫn đến các biến chứng cho thai nhi bao gồm sảy thai, thai chết lưu trong tử cung và/hoặc thai phù không do miễn dịch. (Xem “Nhiễm parvovirus B19 trong thời kỳ mang thai”.)

Tiếp cận chẩn đoán – Cần nghi ngờ nhiễm parvovirus B19 ở những bệnh nhân có triệu chứng phù hợp với các hội chứng lâm sàng liên quan. Phương pháp chẩn đoán tùy thuộc vào đối tượng bệnh nhân và biểu hiện lâm sàng (xem ‘Tiếp cận chẩn đoán’ ở dưới):

  • Ở trẻ em có đủ khả năng miễn dịch biểu hiện phát ban vùng má điển hình của hồng ban nhiễm trùng, có thể chẩn đoán xác định chỉ dựa trên các đặc điểm lâm sàng. Việc xác nhận căn nguyên virus thường không thiết yếu đối với việc chăm sóc lâm sàng trong những trường hợp này. (Xem ‘Vật chủ có đủ khả năng miễn dịch không có suy tủy’ ở dưới.)
  • Khi cần chẩn đoán căn nguyên cụ thể ở bệnh nhân có đủ khả năng miễn dịch (tức là khi việc biết chính xác căn nguyên sẽ ảnh hưởng đến quyết định điều trị), chẩn đoán nhiễm parvovirus B19 cấp tính được thực hiện bằng các xét nghiệm huyết thanh học cho thấy kháng thể IgM đặc hiệu với parvovirus B19 dương tính. (Xem ‘Vật chủ có đủ khả năng miễn dịch không có suy tủy’ ở dưới.)
  • Trong trường hợp cơn suy tủy thoáng qua hoặc thiếu máu đơn dòng dòng hồng cầu mạn tính, chẩn đoán parvovirus B19 được thực hiện bằng cách phát hiện nồng độ DNA parvovirus B19 cao thông qua các xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAAT). Bệnh nhân suy giảm miễn dịch nhiễm parvovirus mạn tính thường không tạo ra kháng thể có thể phát hiện được, do đó kết quả huyết thanh học âm tính không loại trừ khả năng nhiễm trùng ở những bệnh nhân này. (Xem ‘Bệnh nhân suy tủy thoáng qua hoặc mạn tính’ ở dưới.)
  • Tiền sử nhiễm trùng được xác nhận tốt nhất thông qua xét nghiệm huyết thanh học tìm kháng thể IgG đặc hiệu với B19, sự hiện diện của kháng thể này phản ánh khả năng miễn dịch. (Xem ‘Chứng minh tiền sử nhiễm trùng’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Tùy thuộc vào biểu hiện, chẩn đoán phân biệt với nhiễm parvovirus B19 bao gồm các bệnh phát ban do virus khác, quá mẫn với thuốc và viêm khớp dạng thấp cấp tính. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here