Bệnh lao và mắt

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Định nghĩa

  • Lao mắt (Ocular tuberculosis – OTB) là tình trạng tổn thương bất kỳ vị trí nào của nhãn cầu, có thể kèm hoặc không kèm các bằng chứng của bệnh lao phổi hoặc lao ngoài phổi (EPTB). Lao mắt thường khởi phát sau quá trình lan truyền theo đường máu từ một ổ nhiễm khuẩn nguyên phát. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Các hình thái nhiễm khuẩn

  • Ba hình thái lao mắt đã được mô tả dựa trên cơ chế lây truyền trực khuẩn đến mô mắt. Phổ biến nhất, lao mắt phát triển từ quá trình lan truyền theo đường máu của vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis từ các vị trí nhiễm khuẩn tại phổi hoặc ngoài phổi. Ít phổ biến hơn, lao mắt có thể xuất hiện do nhiễm khuẩn trực tiếp từ nguồn ngoại sinh. Trong các trường hợp hiếm gặp, tổn thương mắt có thể là hệ quả của phản ứng quá mẫn từ một ổ nhiễm khuẩn ở xa. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng

  • Biểu hiện thường gặp nhất của lao nội nhãn là các nốt lao hắc mạc. Các cấu trúc ngoại nhãn có thể bị ảnh hưởng trong bệnh lao mắt bao gồm hốc mắt, mi mắt, tuyến lệ, kết mạc và củng mạc. Lao tại các cấu trúc này có thể do lan truyền theo đường máu hoặc do sự lan rộng của ổ nhiễm khuẩn từ vùng lân cận như da hoặc các xoang. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)

Chẩn đoán

Chẩn đoán lao mắt chủ yếu dựa vào lâm sàng, kết hợp giữa các tổn thương tại mắt và tiền sử dịch tễ phù hợp, bằng chứng lao tại các cơ quan khác (như phổi), và/hoặc xét nghiệm lao dương tính như phản ứng lao tố (TST) hoặc xét nghiệm giải phóng interferon-gamma (IGRA), do việc nuôi cấy bệnh phẩm từ mắt thường không khả thi. Kết quả TST hoặc IGRA dương tính có thể hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng nhưng không khẳng định chắc chắn bệnh lao. Ngược lại, kết quả xét nghiệm âm tính cũng không loại trừ được tình trạng lao hoạt động. (Xem ‘Công cụ chẩn đoán’ ở dưới.)

Bệnh phẩm sinh thiết có thể được lấy từ mống mắt hoặc sinh thiết võng mạc – hắc mạc để phân tích mô bệnh học. Việc không tìm thấy trực khuẩn kháng cồn kháng toan (AFB) hoặc hoại tử bã đậu trên mẫu sinh thiết không đủ để loại trừ lao mắt; trong những trường hợp này, xét nghiệm khuếch đại axit nucleic có thể mang lại giá trị chẩn đoán. (Xem ‘Công cụ chẩn đoán’ ở dưới.)

Điều trị

  • Phác đồ điều trị lao mắt nhìn chung tương tự như phác đồ điều trị lao phổi. Thông thường, đối với những trường hợp bệnh lao được chẩn đoán lâm sàng với độ tin cậy cao, không nên trì hoãn điều trị để chờ đợi kết quả nuôi cấy. Đánh giá đáp ứng điều trị được thực hiện thông qua thăm khám lâm sàng và sự cải thiện của các tổn thương thực thể. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here