Tổng quan

Các thiết bị trong miệng trong điều trị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở người lớn

TÓM TẮT

Giới thiệu và cơ chế tác dụng

  • Liệu pháp dụng cụ nha khoa có thể được sử dụng để điều trị bệnh nhân mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA). Các thiết bị nha khoa giúp tăng kích thước hầu họng thông qua việc đưa hàm dưới ra trước, từ đó giảm tình trạng xẹp đường hô hấp trên trong khi ngủ. Có hai loại dụng cụ nha khoa chính là máng đẩy hàm dưới (MAS) và thiết bị giữ lưỡi. MAS là loại dụng cụ được sử dụng phổ biến nhất. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới và ‘Các loại thiết bị’ ở dưới.)

Đánh giá

Lựa chọn bệnh nhân

Lựa chọn thiết bị

  • Sau khi có chỉ định, việc lựa chọn thiết bị, lắp đặt và hiệu chỉnh thường do nha sĩ (hoặc bác sĩ phẫu thuật hàm mặt) có kinh nghiệm sử dụng dụng cụ nha khoa cho bệnh nhân OSA thực hiện. Với hầu hết bệnh nhân, chúng tôi đề xuất sử dụng các thiết bị làm theo khuôn cá nhân thay vì các thiết bị đúc sẵn (Khuyến cáo 2C). Các thiết bị làm theo khuôn cá nhân cho thấy khả năng dung nạp tốt hơn và có khả năng đạt hiệu quả cao hơn. Trong khoảng thời gian từ vài tuần đến vài tháng, mức độ đưa hàm dưới ra trước sẽ được tăng dần cho đến giới hạn tối đa hoặc đến mức bệnh nhân có thể dung nạp được. (Xem ‘Lựa chọn thiết bị và hiệu chỉnh’ ở dưới.)

Theo dõi

  • Sau khi hiệu chỉnh thiết bị, bệnh nhân cần được theo dõi ngắn hạn và dài hạn bởi cả bác sĩ lâm sàng và nha sĩ (hoặc bác sĩ phẫu thuật hàm mặt), định kỳ 6 tháng một lần trong năm đầu tiên và sau đó là hàng năm. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới.)

Đánh giá lâm sàng và khách quan

  • Ban đầu, chúng tôi đánh giá hiệu quả điều trị cả về mặt lâm sàng và khách quan bằng các xét nghiệm giấc ngủ (ví dụ: đa ký giấc ngủ hoặc nghiệm pháp ngưng thở khi ngủ tại nhà). Mục tiêu của liệu pháp dụng cụ nha khoa là giải quyết các dấu hiệu và triệu chứng của OSA, cải thiện chất lượng giấc ngủ, đồng thời đưa chỉ số ngưng thở – giảm thở (AHI) và độ bão hòa oxy hemoglobin về mức bình thường. Về lâu dài, chúng tôi theo dõi bệnh nhân vô thời hạn để giám sát các triệu chứng OSA tái phát (ví dụ: do tăng cân) cũng như các dấu hiệu thiết bị xuống cấp hoặc không còn khớp với tình trạng răng miệng. (Xem ‘Đánh giá triệu chứng và thực hiện xét nghiệm giấc ngủ’ ở dưới.)

Hiệu quả kỳ vọng

  • Các dụng cụ nha khoa nhìn chung kém hiệu quả hơn so với liệu pháp PAP trong việc cải thiện chỉ số AHI và độ bão hòa oxy hemoglobin, mặc dù không có sự khác biệt về tác động lên các triệu chứng (ví dụ: buồn ngủ ban ngày mang tính chủ quan) hoặc các kết cục sức khỏe khác (ví dụ: ngáy, huyết áp, chức năng nhận thức, ngáy). (Xem ‘Hiệu quả và kết cục’ ở dưới.)

Sự tuân thủ và tác dụng phụ

  • Để khuyến khích sự tuân thủ và tối đa hóa hiệu quả, chúng tôi chú trọng giải quyết vấn đề không tuân thủ và các tác dụng phụ. Tỷ lệ không tuân thủ có vẻ thấp hơn so với liệu pháp PAP liên tục (CPAP), dao động từ 10% đến 24%. Các tác dụng phụ thường nhẹ (ví dụ: khó chịu tại răng) và hiếm khi cần phải ngừng sử dụng dụng cụ nha khoa. Thay đổi khớp cắn là tác dụng phụ muộn phổ biến nhất, đòi hỏi chuyên môn nha khoa để đánh giá và quản lý (ví dụ: răng cửa hàm trên di chuyển ra sau và răng cửa hàm dưới cùng với hàm dưới di chuyển ra trước). (Xem ‘Đánh giá sự tuân thủ’ ở dưới.)

Kết cục

  • Liệu pháp dụng cụ nha khoa giúp cải thiện các chỉ số OSA trên xét nghiệm giấc ngủ khách quan, mặc dù liệu pháp PAP cho thấy sự vượt trội đối với kết cục này (đặc biệt là chỉ số AHI). Các dụng cụ nha khoa cũng cải thiện các triệu chứng buồn ngủ và kiểm soát huyết áp ở mức độ tương đương với CPAP. (Xem ‘Hiệu quả và kết cục’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here