TÓM TẮT
Đánh giá hạch vùng – Cách tiếp cận tổng thể đối với các nhóm hạch vùng ở bệnh nhân u hắc tố da nguyên phát phụ thuộc vào việc bệnh nhân biểu hiện lâm sàng âm tính, hay có dấu hiệu rõ rệt hoặc nghi ngờ tổn thương hạch vùng. (Xem thêm mục ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Hạch vùng âm tính trên lâm sàng – Hầu hết bệnh nhân u hắc tố da nguyên phát không phát hiện được di căn hạch trên lâm sàng tại thời điểm chẩn đoán. Việc lựa chọn bệnh nhân để thực hiện lập bản đồ hạch bạch huyết và sinh thiết hạch gác (SLNB) dựa trên nguy cơ di căn hạch ước tính theo giai đoạn AJCC (bảng 1A-B) hoặc sử dụng các công cụ dự đoán đã được chuẩn hóa (ví dụ: AJCC, MSKCC, MIA). (Xem thêm mục ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân giai đoạn T2 theo AJCC hoặc có nguy cơ di căn hạch ước tính > 10%, chúng tôi khuyến cáo thực hiện SLNB.
- Đối với bệnh nhân giai đoạn T1b theo AJCC hoặc có nguy cơ di căn hạch ước tính từ 5 đến 10%, SLNB là một lựa chọn và cần thảo luận chi tiết với bệnh nhân về những rủi ro cũng như lợi ích tiềm tàng.
- Đối với bệnh nhân giai đoạn T1a theo AJCC hoặc có nguy cơ di căn hạch ước tính < 5%, chúng tôi đề xuất không thực hiện SLNB.
Lập bản đồ hạch bạch huyết và SLNB – Việc phân giai đoạn hạch vùng dựa trên nguyên lý các đường bạch huyết tuân theo những quy luật chung; tuy nhiên, không thể dự đoán chính xác đường đi cụ thể cho một vị trí nhất định trên da. Lập bản đồ hạch bạch huyết giúp xác định vị trí di căn đầu tiên có khả năng xảy ra nhất (tức là hạch gác) trong một nhóm hạch nhất định. Nếu hạch gác không có tế bào u, khả năng cao là toàn bộ nhóm hạch vùng đó không có u. (Xem thêm mục ‘Lập bản đồ hạch bạch huyết và sinh thiết hạch gác’ ở dưới.)
SLNB lý tưởng nhất là được thực hiện đồng thời với phẫu thuật cắt rộng tổn thương u hắc tố nguyên phát. Đối với những bệnh nhân đã thực hiện cắt rộng, hạch gác nhìn chung vẫn có thể được xác định thành công và phản ánh chính xác tình trạng của nhóm hạch vùng; tuy nhiên, có thể cần can thiệp phẫu thuật sâu hơn.
Chúng tôi thường thực hiện xạ hình bạch huyết trước khi SLNB cho tất cả bệnh nhân, ưu tiên thực hiện trong cùng ngày phẫu thuật. Xạ hình bạch huyết bao gồm tiêm một chất đánh dấu phóng xạ trong da tại vị trí u hắc tố nguyên phát, sau đó tiến hành chẩn đoán hình ảnh. Một đầu dò gamma cũng được sử dụng thường quy trong mổ để phát hiện chất đánh dấu phóng xạ và xác định các hạch gác. Trước phẫu thuật, chúng tôi xác nhận vị trí hạch gác trên hình ảnh để đảm bảo sự dẫn lưu và đảm bảo rằng các vị trí hấp thu chất phóng xạ có thể tiếp cận được trong quá trình thủ thuật.
Chúng tôi thường tiêm thuốc nhuộm xanh (vital blue dye) trong da tại phòng mổ như một phần của phương pháp phối hợp trong SLNB (tức là kết hợp với chất đánh dấu phóng xạ). Khi phối hợp với việc sử dụng đầu dò gamma trong mổ, dấu hiệu trực quan từ thuốc nhuộm giúp dễ dàng xác định hạch gác và có thể giúp hạn chế phạm vi nạo vét nhóm hạch khi phẫu thuật.
Quản lý tiếp theo – Việc quản lý tiếp theo tùy thuộc vào kết quả giải phẫu bệnh của hạch gác. (Xem thêm mục ‘Quản lý tiếp theo’ ở dưới.)
SLNB âm tính – Bệnh nhân có kết quả SLNB âm tính (tức là không tìm thấy u trong hạch gác) sẽ được theo dõi lâm sàng chặt chẽ để phát hiện tái phát. Nguy cơ tái phát ở nhóm này thấp hơn so với những bệnh nhân có cùng đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh nhưng có kết quả SLNB dương tính.
SLNB dương tính – Đối với bệnh nhân có SLNB dương tính, chúng tôi đề xuất theo dõi lâm sàng chặt chẽ kết hợp với siêu âm giám sát nhóm hạch thay vì thực hiện nạo vét hạch hoàn tất (CLND) ngay lập tức (Khuyến cáo 2C). Nạo vét hạch điều trị và/hoặc đánh giá điều trị tân bổ trợ có thể được chỉ định nếu có bằng chứng tái phát hạch vùng sau đó mà không có di căn xa. (Xem thêm mục ‘Quản lý tiếp theo’ ở dưới.)
Hạch vùng biểu hiện rõ trên lâm sàng – Đối với những bệnh nhân có tổn thương hạch vùng biểu hiện rõ trên lâm sàng và được xác nhận bằng tế bào học hoặc mô bệnh học (AJCC giai đoạn III), liệu pháp miễn dịch tân bổ trợ khởi đầu trước khi phẫu thuật cắt bỏ có thể là một lựa chọn tiêu chuẩn hợp lý cho những bệnh nhân phù hợp. Phạm vi phẫu thuật cần thiết có thể giảm bớt đối với những bệnh nhân đáp ứng tốt. Khi có chỉ định nạo vét hạch, chúng tôi thực hiện nạo vét toàn bộ hạch vùng thay vì nạo vét một phần hoặc lấy mẫu hạch. Phạm vi tổn thương hạch và vị trí của tất cả các hạch tổn thương không thể dự đoán chính xác trước phẫu thuật. (Xem thêm mục ‘Nạo vét hạch điều trị’ ở dưới.)
