TÓM TẮT
Cơ sở của việc tầm soát – Tầm soát ung thư đại trực tràng (CRC) giúp phát hiện các tổn thương tiền ung thư và các khối u ác tính giai đoạn sớm chưa có triệu chứng, từ đó tăng khả năng điều trị khỏi bệnh. Tầm soát đã được chứng minh là giúp giảm tỷ lệ tử vong do CRC, và các chương trình tầm soát có tổ chức giúp giảm thiểu sự chênh lệch trong tiếp cận y tế; hầu hết các rủi ro của tầm soát CRC đều bắt nguồn từ thủ thuật nội soi đại tràng. (Xem ‘Diễn tiến tự nhiên của ung thư đại trực tràng và polyp đại tràng’, ‘Lợi ích của tầm soát’ và ‘Tác hại liên quan đến tầm soát’ ở dưới.)
Đánh giá nguy cơ – Chúng tôi thực hiện đánh giá nguy cơ ban đầu trong lần khám đầu tiên để xác định xem bệnh nhân có tăng nguy cơ mắc CRC hay không và cập nhật thông tin này ít nhất 5 năm một lần. Những bệnh nhân có nguy cơ tăng cao đến mức cần thay đổi khuyến nghị tầm soát (ví dụ: bắt đầu tầm soát sớm hơn và/hoặc tăng tần suất tầm soát) bao gồm những người có tiền sử bản thân hoặc gia đình mắc CRC, polyp tuyến tiến triển hoặc các yếu tố nguy cơ khác. (Xem ‘Đánh giá nguy cơ ung thư đại trực tràng’ ở dưới.)
Độ tuổi bắt đầu và kết thúc tầm soát
Đối với bệnh nhân từ 45 đến 49 tuổi, chúng tôi đề xuất tầm soát CRC (Khuyến cáo 2B). Chúng tôi bắt đầu tầm soát ở tuổi 45 đối với hầu hết người trưởng thành có nguy cơ trung bình nhằm cân bằng giữa lợi ích phát hiện, phòng ngừa với gánh nặng cho bệnh nhân và rủi ro từ việc tầm soát. Ở nhóm tuổi 45 đến 49, lợi ích ròng của tầm soát CRC có thể ở mức trung bình; tuy nhiên, bằng chứng chưa rõ ràng bằng nhóm từ 50 đến 75 tuổi. (Xem ‘Độ tuổi bắt đầu tầm soát’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân từ 50 đến 75 tuổi, chúng tôi đề xuất tầm soát CRC (Khuyến cáo 2A). Chúng tôi tiếp tục tầm soát CRC cho đến năm 75 tuổi đối với những bệnh nhân có nguy cơ trung bình, miễn là kỳ vọng sống của họ từ 10 năm trở lên. Hầu hết các hướng dẫn điều trị đều khuyến cáo tầm soát ít nhất đến năm 75 tuổi cho bệnh nhân có nguy cơ trung bình.
Với bệnh nhân từ 76 đến 85 tuổi đã từng tầm soát trước đó, chúng tôi cá thể hóa quyết định tiếp tục tầm soát dựa trên các yếu tố như nguyện vọng của bệnh nhân, kết quả xét nghiệm trước đó và các bệnh đồng mắc. Việc tầm soát đến năm 86 tuổi có thể là hợp lý đối với những bệnh nhân chưa từng tầm soát, tùy thuộc vào tình trạng bệnh đồng mắc của họ. (Xem ‘Ngừng tầm soát’ ở dưới.)
Trao đổi về các xét nghiệm tầm soát với bệnh nhân – Sau khi xác định bệnh nhân có nguy cơ trung bình, chúng tôi thảo luận về các chiến lược tầm soát CRC cụ thể và tìm hiểu nguyện vọng của bệnh nhân. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định tầm soát đối với từng cá nhân bao gồm giá trị quan, tình trạng sức khỏe tổng quát, hiệu quả, tần suất, độ an toàn, khả năng tiếp cận, sự thuận tiện, mức độ thoải mái và chi phí của xét nghiệm. (Xem ‘Lựa chọn xét nghiệm’ ở dưới.)
Lựa chọn xét nghiệm – Ở những bệnh nhân có nguy cơ trung bình, chúng tôi đề xuất tầm soát bằng nội soi đại tràng hoặc xét nghiệm miễn dịch tìm máu trong phân (FIT), thay vì các lựa chọn khác (Khuyến cáo 2C). Tiếp cận này dựa trên chất lượng bằng chứng về các lựa chọn xét nghiệm, cũng như xem xét về độ chính xác, sự thuận tiện và mức độ chấp nhận của bệnh nhân. Tuy nhiên, vì sự tuân thủ xét nghiệm là yếu tố then chốt cho thành công của tầm soát, các phương pháp khác vẫn là lựa chọn hợp lý, bao gồm: xét nghiệm DNA trong phân đa mục tiêu (mt-sDNA – Cologuard), chụp cắt lớp vi tính đại tràng (CTC), xét nghiệm guaiac tìm máu trong phân độ nhạy cao (như Hemoccult SENSA) hoặc nội soi đại tràng sigma mềm. (Xem ‘Lựa chọn xét nghiệm’ ở dưới.)
Tần suất xét nghiệm – Các chiến lược tầm soát CRC theo hướng dẫn điều trị cho thấy hiệu quả tương đương trong việc giảm tử vong do CRC. Tuy nhiên, tần suất thực hiện cũng như độ nhạy và độ đặc hiệu trong phát hiện polyp và ung thư đại trực tràng là khác nhau (hình 1).
Với bệnh nhân ưu tiên nội soi đại tràng, chúng tôi thực hiện định kỳ mỗi 10 năm một lần. Với những bệnh nhân ưu tiên xét nghiệm không xâm lấn hoặc ở những khu vực hạn chế tiếp cận nội soi, chúng tôi thường chỉ định xét nghiệm FIT tìm máu ẩn hàng năm trên một mẫu phân duy nhất. Các lựa chọn thay thế tương đương bao gồm xét nghiệm mt-sDNA mỗi 1 đến 3 năm hoặc chụp CTC mỗi 5 năm. (Xem ‘Các lựa chọn xét nghiệm’ ở dưới.)
Khi thảo luận về các chiến lược khác ngoài nội soi đại tràng, chúng tôi nhấn mạnh rằng nếu kết quả xét nghiệm dương tính, cần phải thực hiện nội soi đại tràng ngay lập tức. (Xem ‘Các lựa chọn xét nghiệm’ ở dưới.)
Các xét nghiệm khác hiện có để tầm soát CRC bao gồm nội soi đại tràng sigma kết hợp với FIT hoặc xét nghiệm guaiac tìm máu trong phân (gFOBT), nội soi đại tràng sigma đơn độc, gFOBT đơn độc và nội soi đại tràng bằng viên nang. (Xem ‘Các lựa chọn xét nghiệm’ ở dưới.)
Các xét nghiệm không khuyến cáo
Xét nghiệm RNA trong phân đa mục tiêu (ColoSense) và một số xét nghiệm máu (ví dụ: Shield) đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt, nhưng chúng tôi thường không sử dụng vì dữ liệu về hiệu quả chưa thực sự mạnh mẽ. (Xem ‘Các xét nghiệm không được khuyến cáo’ và “Xét nghiệm tầm soát ung thư đại trực tràng”, phần ‘Xét nghiệm máu’ ở dưới.)
Tầm soát CRC không nên dựa trên xét nghiệm gFOBT thực hiện tại phòng khám sau khi thăm trực tràng bằng ngón. Thụt tháo barium không còn được khuyến cáo để tầm soát vì các xét nghiệm khác có hiệu quả cao hơn. (Xem ‘Các xét nghiệm không được khuyến cáo’ ở dưới.)
Theo dõi kết quả bất thường – Mọi xét nghiệm tầm soát CRC cho kết quả dương tính (ngoại trừ nội soi đại tràng) cần được theo dõi nhanh chóng bằng nội soi đại tràng để quan sát toàn bộ đại tràng nhằm tìm kiếm các tổn thương tiềm tàng. (Xem ‘Theo dõi kết quả bất thường’ ở dưới.)
