Bệnh đường mật liên quan đến AIDS

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Bệnh lý đường mật liên quan đến AIDS (AIDS cholangiopathy) là một hội chứng tắc nghẽn đường mật bắt nguồn từ các tổn thương hẹp đường mật do nhiễm trùng, thường gặp ở bệnh nhân có số lượng tế bào CD4 giảm sâu dưới 100 tế bào/mm3. Tỷ lệ mắc bệnh chưa được xác định chính xác nhưng đã có xu hướng giảm kể từ khi liệu pháp kháng retrovirus hoạt tính cường độ cao ra đời. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Cryptosporidium parvum là tác nhân vi sinh phổ biến nhất gây ra bệnh lý đường mật liên quan đến AIDS. Các tác nhân khác bao gồm cytomegalovirus, Microsporidium, Cyclospora và Histoplasma. Tuy nhiên, có khoảng 20% đến 40% trường hợp không tìm thấy nguyên nhân nhiễm trùng. (Xem ‘Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)

Bệnh nhân thường có biểu hiện đau hạ sườn phải, đau vùng thượng vị và tiêu chảy; sốt và vàng da ít gặp hơn. Mức độ nghiêm trọng của cơn đau bụng thay đổi tùy thuộc vào vị trí tổn thương đường mật. Đau bụng dữ dội gợi ý hẹp cơ thắt Oddi, trong khi đau bụng nhẹ hơn thường liên quan đến viêm xơ hóa đường mật trong gan và ngoài gan nhưng không kèm hẹp cơ thắt Oddi (hình 1). (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán được xác định bằng phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP). Mặc dù vậy, các cận lâm sàng khác (đặc biệt là siêu âm và chụp cộng hưởng từ mật tụy – MRCP) đóng vai trò hữu ích trong việc đánh giá ban đầu và lựa chọn bệnh nhân phù hợp để thực hiện ERCP. (Xem ‘Nghi ngờ lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)

Phương pháp điều trị các bất thường trên phim chụp đường mật chủ yếu là can thiệp nội soi, và chiến lược xử trí sẽ linh hoạt theo từng tổn thương giải phẫu. Đối với bệnh nhân mắc bệnh lý đường mật liên quan đến AIDS kèm theo viêm đường mật cấp (sốt, đau bụng và vàng da), hướng xử trí bao gồm theo dõi và điều trị tình trạng nhiễm trùng huyết, sử dụng kháng sinh phổ rộng, đồng thời thiết lập dẫn lưu đường mật thông qua giải áp bằng nội soi. (Xem ‘Điều trị bằng nội soi’ ở dưới.)

Ở những bệnh nhân có triệu chứng hẹp cơ thắt Oddi (đau bụng, viêm đường mật hoặc vàng da), chúng tôi đề nghị cắt cơ thắt Oddi (Khuyến cáo 2C). Việc cắt cơ thắt Oddi không mang lại lợi ích cho bệnh nhân bị viêm xơ hóa đường mật mà không kèm theo hẹp cơ thắt Oddi. (Xem ‘Hẹp cơ thắt Oddi có triệu chứng’ ở dưới.)

Đối với bệnh nhân có tổn thương hẹp ống mật chủ đơn độc hoặc chiếm ưu thế, chúng tôi đề nghị đặt Stent đường mật (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Hẹp đường mật’ ở dưới.)

Các lựa chọn điều trị cho bệnh nhân viêm xơ hóa đường mật trong gan hoặc ngoài gan còn nhiều hạn chế. Chúng tôi đề nghị sử dụng ursodeoxycholic acid với liều 300 mg, uống 3 lần mỗi ngày (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Quản lý và điều trị’ ở dưới.)

Mặc dù nhiễm trùng là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh lý đường mật liên quan đến AIDS, các thuốc điều trị đặc hiệu nhắm vào các tác nhân thông thường (C. parvum, Microsporidium hoặc cytomegalovirus) có thể không cải thiện được các bất thường trên hình ảnh đường mật. Dù vậy, khi đã chẩn đoán được nguyên nhân cụ thể, việc điều trị hướng tới tác nhân đó vẫn phải được tiến hành nhằm ngăn chặn tình trạng nhiễm trùng cơ hội tiến triển nặng thêm. (Xem ‘Điều trị nhiễm trùng nền’ ở dưới.)

Những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch tiến triển cần được khởi đầu liệu pháp kháng retrovirus (ART). Trên đa số bệnh nhân, chúng tôi tiến hành điều trị càng sớm càng tốt (và trong vòng hai tuần). (Xem ‘Liệu pháp kháng retrovirus’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here