TÓM TẮT
Tổng quan – Trẻ mắc hội chứng ruột ngắn (SBS) thường gặp nhiều biến chứng đa dạng ảnh hưởng đến đường tiêu hóa, hệ mật và các cơ quan khác do tình trạng kém hấp thu mạn tính và nhu cầu nuôi dưỡng tĩnh mạch kéo dài (bảng 1 và hình 1).
Tiêu chảy – Tiêu chảy phân nước là biến chứng sớm thường gặp nhất ở trẻ mắc SBS và có thể là vấn đề mạn tính hoặc tái phát trong các giai đoạn sau. Nguyên nhân thường do quá tải áp suất thẩm thấu, vượt quá khả năng hấp thu hạn chế của ruột non. Các yếu tố góp phần ở một số bệnh nhân bao gồm: chiều dài ruột non còn lại quá ngắn, không dung nạp lactose, tăng tiết acid dạ dày, muối mật không được hấp thu tại đại tràng (tiêu chảy do acid mật), rối loạn vận động, bệnh dị ứng hoặc quá phát vi khuẩn ruột non (SIBO). (Xem ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Quản lý tiêu chảy bao gồm:
- Quản lý chế độ ăn – Đối với hầu hết trẻ tiêu chảy phân nước mạn tính, thử nghiệm thay đổi chế độ ăn là bước tiếp cận đầu tiên phù hợp. (Xem ‘Thử nghiệm thay đổi chế độ ăn’ ở dưới.)
- Điều trị nội khoa – Các phương pháp điều trị bổ sung tùy thuộc vào tình trạng cụ thể (xem mục ‘Điều trị nội khoa’ ở dưới):
Các thuốc ức chế acid thường được sử dụng trong vài tháng đầu sau phẫu thuật cắt ruột, nhưng nên tránh sử dụng kéo dài nếu có thể (bảng 2). Nếu tiêu chảy không được kiểm soát tốt bằng thay đổi chế độ ăn, chúng tôi đề nghị thử nghiệm dùng thuốc ức chế acid trong thời gian ngắn với thuốc ức chế bơm proton (PPI) (Khuyến cáo 2C). Cần cai thuốc nếu không thấy lợi ích rõ rệt. (Xem ‘Tiêu chảy mạn tính’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân SBS không thể cai nuôi dưỡng tĩnh mạch, điều trị bằng teduglutide kết hợp với chương trình phục hồi ruột có thể là một lựa chọn. Vấn đề này được thảo luận riêng. (Xem “Quản lý hội chứng ruột ngắn ở trẻ em”, phần ‘Điều trị nội khoa’.)
Đối với bệnh nhân có lượng phân lớn hoặc đi ngoài ban đêm dù đã quản lý chế độ ăn, chúng tôi đề nghị bổ sung loperamide vào phác đồ (Khuyến cáo 2C).
Đối với bệnh nhân đã phẫu thuật cắt đoạn rộng hồi đoạn cuối, chúng tôi đề nghị thử nghiệm bổ sung cholestyramine vào phác đồ (Khuyến cáo 2C). Nếu sử dụng cholestyramine kéo dài, cần theo dõi tình trạng dinh dưỡng và thiếu hụt các vitamin tan trong dầu.
Rối loạn vận động – Tình trạng này thường gặp ở bệnh nhân SBS, đặc biệt là những người có giãn ruột hoặc tiền sử thoát vị rốn (gastroschisis). Các lựa chọn thuốc điều trị rối loạn vận động ở trẻ em mắc SBS còn hạn chế. Đối với hầu hết trẻ cần thuốc tăng cường vận động, chúng tôi đề nghị dùng cyproheptadine hoặc erythromycin là lựa chọn hàng đầu (Khuyến cáo 2C). Các lựa chọn thay thế bao gồm amoxicillin-clavulanate hoặc prucalopride. Phẫu thuật thu hẹp ruột (surgical tapering) có thể mang lại lợi ích cho những bệnh nhân được lựa chọn kỹ lưỡng. (Xem ‘Rối loạn vận động’ ở dưới.)
Bệnh gan liên quan đến suy ruột (IFALD) – Được thảo luận trong một bài review chuyên đề riêng. (Xem “Bệnh gan liên quan đến suy ruột ở trẻ sơ sinh”.)
Các biến chứng khác – Bao gồm:
- Loét miệng nối (xem ‘Loét miệng nối’ ở dưới)
- Viêm mạn tính và hội chứng giống bệnh ruột viêm (xem ‘Hội chứng giống bệnh ruột viêm’ ở dưới)
- Rối loạn dị ứng và tăng bạch cầu ái toan (xem ‘Bệnh dị ứng và tăng bạch cầu ái toan’ ở dưới)
- SIBO (xem ‘Quá phát vi khuẩn ruột non’ ở dưới)
- Sỏi mật (xem ‘Sỏi mật’ ở dưới)
- Biến chứng liên quan đến catheter (nhiễm khuẩn huyết, hỏng catheter về mặt cơ học và huyết khối) (xem ‘Biến chứng liên quan đến catheter’ ở dưới)
- Thiếu hụt dinh dưỡng, cần theo dõi và bổ sung (bảng 3) (xem ‘Biến chứng dinh dưỡng’ ở dưới)
- Rối loạn ăn uống (sợ ăn qua đường miệng) (xem ‘Vấn đề ăn uống và sợ ăn qua đường miệng’ ở dưới)
