TÓM TẮT
Tổng quan – Hiện nay, ảnh hưởng của bệnh vẩy nến ở người mẹ đối với kết cục thai kỳ vẫn chưa rõ ràng. Vấn đề trọng tâm trong quản lý thai kỳ ở những bệnh nhân này là lựa chọn các liệu pháp điều trị thuốc ít gây rủi ro nhất cho thai nhi (Xem thêm ‘Các cân nhắc đặc biệt’ và ‘Nguyên tắc điều trị’ ở dưới).
Thời điểm mang thai – Lý tưởng nhất, bệnh nhân nên lập kế hoạch mang thai khi bệnh đang trong giai đoạn thuyên giảm, đã ngưng thuốc hoặc đang sử dụng liều hiệu quả thấp nhất của các loại thuốc có hồ sơ an toàn cho thai nhi tốt nhất. Tuy nhiên, việc trì hoãn mang thai cho đến khi bệnh thuyên giảm thường không khả thi trên thực tế. Do đó, việc lựa chọn các phương pháp điều trị có độ an toàn cao cho thai nhi là đặc biệt quan trọng đối với những bệnh nhân này (Xem thêm ‘Các cân nhắc đặc biệt’ ở dưới).
Ảnh hưởng của thai kỳ đối với bệnh vẩy nến – Tình trạng vẩy nến cải thiện trong thai kỳ ở 40% đến 60% bệnh nhân, tiến triển xấu hơn ở 10% đến 20% và duy trì ổn định ở những trường hợp còn lại. Ở những bệnh nhân có đáp ứng tốt, mức độ cải thiện có thể rất rõ rệt. Trong giai đoạn hậu sản, mức độ nghiêm trọng của vẩy nến thường không thay đổi hoặc trở nên trầm trọng hơn ở hầu hết bệnh nhân (Xem thêm ‘Các cân nhắc đặc biệt’ ở dưới).
Hướng tiếp cận điều trị
- Bệnh nhân vẩy nến thể giới hạn – Đối với bệnh nhân mang thai có vẩy nến thể giới hạn (tức là vẩy nến không gây suy nhược, diện tích tổn thương dưới 5% đến 10% diện tích bề mặt cơ thể), chúng tôi khuyến cáo sử dụng liệu pháp điều trị tại chỗ thay vì điều trị toàn thân (Khuyến cáo 2C). Các chất làm mềm và dưỡng ẩm có hiệu quả trong việc giảm vảy gây khó chịu. Lựa chọn điều trị y khoa hàng đầu là corticosteroid tại chỗ có hoạt lực thấp đến trung bình (bảng 1). (Xem thêm ‘Liệu pháp hàng đầu’ ở dưới).
- Bệnh nhân vẩy nến lan rộng hoặc kháng điều trị tại chỗ – Đối với những bệnh nhân vẩy nến không thể kiểm soát thỏa đáng bằng liệu pháp tại chỗ (tức là bệnh lan rộng hoặc kháng thuốc), chúng tôi khuyến cáo sử dụng liệu pháp quang trị liệu Narrowband UVB (NBUVB) thay vì các liệu pháp toàn thân, do tính an toàn và hiệu quả của quang trị liệu trong thai kỳ (Khuyến cáo 2C). Vì vẩy nến thường cải thiện trong thai kỳ, những bệnh nhân cần điều trị toàn thân trước khi mang thai có thể chuyển sang điều trị bằng quang trị liệu (Xem thêm ‘Quang trị liệu Ultraviolet B’ ở dưới).
- Các liệu pháp chống chỉ định – Tazarotene tại chỗ, methotrexate và acitretin được chống chỉ định trong thời kỳ mang thai (Xem thêm ‘Các liệu pháp chống chỉ định’ ở dưới).
