TÓM TẮT
Chẩn đoán phân biệt tiếng khò khè
- Mặc dù hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là những nguyên nhân phổ biến nhất gây khò khè, nhưng nhiều bệnh lý khác cũng có thể gây tắc nghẽn đường thở, từ đó dẫn đến tiếng khò khè ở thì thở ra và/hoặc thì hít vào (bảng 1, bảng 2, bảng 3 và bảng 4). (Xem ‘Nguyên nhân’ phía trên).
Đánh giá và xử trí ban đầu cho bệnh nhân khò khè đang suy hô hấp
- Đối với bệnh nhân khởi phát suy hô hấp cấp tính kèm theo tiếng khò khè hoặc thở rít, các bước ban đầu quan trọng nhất là bảo đảm ô-xy hóa và thông khí đầy đủ dựa trên đo độ bão hòa ô-xy qua mạch (SpO2) và khí máu động mạch, tiếp theo là đánh giá nhanh chóng để xác định nguyên nhân có khả năng cao nhất. (Xem ‘Đánh giá tình trạng khò khè cấp tính và suy hô hấp’ phía trên).
- Nghi ngờ hen phế quản hoặc COPD: Nếu có khả năng cao mắc hen phế quản hoặc COPD, cần chỉ định ngay thuốc giãn phế quản dạng dung dịch phun khí dung.
- Nghi ngờ phản vệ: Nếu có dấu hiệu phản vệ, cần tiêm dưới da epinephrine ngay lập tức.
- Nghi ngờ tắc nghẽn đường thở trung tâm: Đối với bệnh nhân có nguy cơ suy hô hấp cận kề (như suy giảm ô-xy máu qua đo độ bão hòa ô-xy, tăng phân áp khí carbon dioxide trong máu động mạch), bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm cần tiến hành đặt nội khí quản trước khi thực hiện đánh giá chẩn đoán. Nếu không thể đặt nội khí quản ngay lập tức, việc cho bệnh nhân hít hỗn hợp khí heli-ô-xy có thể giúp ổn định tạm thời tình trạng hô hấp. Trong trường hợp tắc nghẽn khí quản nặng, việc sử dụng ống soi phế quản cứng có kênh thông khí mở có thể là cần thiết. Ở những bệnh nhân này, quá trình đánh giá chẩn đoán được tiến hành đồng thời với các biện pháp bảo đảm thông khí đầy đủ. (Xem ‘Đánh giá tình trạng khò khè cấp tính và suy hô hấp’ phía trên, cùng với các bài “Biểu hiện lâm sàng, đánh giá chẩn đoán và quản lý tắc nghẽn đường thở trung tâm do ác tính ở người lớn”, “Quản lý hẹp dưới thanh môn và hẹp khí quản không ác tính, không đe dọa tính mạng ở người lớn” và “Sinh lý học và ứng dụng lâm sàng của hỗn hợp heliox”).
Biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân ổn định
- Đối với bệnh nhân có tình trạng hô hấp ổn định, việc khai thác tiền sử kỹ lưỡng và khám lâm sàng chi tiết có thể giúp thu hẹp các nguyên nhân tiềm ẩn gây khò khè không do hen phế quản hoặc COPD (bảng 2, bảng 3 và bảng 4). (Xem ‘Tiền sử’ phía trên và mục ‘Khám thực thể’ phía trên).
Thăm dò chức năng hô hấp
- Đối với hầu hết bệnh nhân ổn định, xét nghiệm chức năng hô hấp đầu tay là đo phế dung đồ trước và sau khi dùng thuốc giãn phế quản dạng hít. Đối với bệnh nhân không đạt tiêu chuẩn chẩn đoán hen phế quản hoặc COPD, hoặc không đáp ứng thích hợp với thử nghiệm dùng thuốc giãn phế quản và thuốc kháng viêm, cần phân tích kỹ lưỡng vòng lưu lượng – thể tích. Vòng lưu lượng – thể tích có thể được sử dụng để xác định xem tình trạng tắc nghẽn là cố định hay thay đổi, và vị trí tắc nghẽn nằm trong lồng ngực hay ngoài lồng ngực (hình 3A-B). (Xem ‘Thăm dò chức năng hô hấp’ phía trên).
Chẩn đoán hình ảnh
- Chẩn đoán hình ảnh vùng cổ và ngực (ví dụ: chụp X-quang quy ước vùng ngực và cổ, cắt lớp vi tính [CT], chụp CT tái tạo ba chiều, chụp CT thì hít vào và thở ra tối đa) đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình trạng khò khè do các tổn thương cấu trúc ở đường thở trung tâm. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ phía trên).
Nội soi quan sát trực tiếp đường thở
- Quan sát trực tiếp đường thở thường là cần thiết để đưa ra chẩn đoán xác định nguyên nhân gây khò khè vốn được nghi ngờ dựa trên kết quả thăm dò chức năng hô hấp và chẩn đoán hình ảnh. Trong quá trình nội soi, có thể sinh thiết các khối u và mảng bám nằm trong lòng ống (ví dụ: u ác tính, bệnh thoái hóa dạng bột [amyloid], bệnh u nhú đường hô hấp). (Xem ‘Quan sát trực tiếp’ phía trên).
