TÓM TẮT
Định nghĩa tình trạng kháng glucocorticoid (GC)
- Đáp ứng với glucocorticoid (GC) là một phổ liên tục; những bệnh nhân hen mạn tính không đáp ứng với liều GC cao và không có các yếu tố gây nhiễu được gọi là kháng GC. (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng của tình trạng kháng GC
Ở những bệnh nhân cần sử dụng glucocorticoid dạng hít liều cao hoặc glucocorticoid dạng uống kéo dài để kiểm soát hen, khoảng 50% có tình trạng tắc nghẽn đường thở dai dẳng và 69% có tăng bạch cầu ái toan trong đờm (được định nghĩa là tỷ lệ bạch cầu ái toan ≥2%). Mặc dù phản ứng co mạch qua da đối với glucocorticoid tại chỗ bị giảm đáng kể, các mô khác (ví dụ: tuyến thượng thận, xương) dường như không có đáp ứng bất thường với GC. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân hen kháng GC, chức năng trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận dường như vẫn bình thường. Các chỉ số cortisol huyết thanh và đáp ứng ức chế bằng dexamethasone đều ở mức bình thường, trong khi các tác dụng phụ do GC gây ra là một vấn đề lớn. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Đánh giá
- Những bệnh nhân hen nặng cần sử dụng GC đường uống để kiểm soát bệnh, hoặc hen vẫn không được kiểm soát tốt mặc dù đã sử dụng GC đường uống, nên được đánh giá theo các hướng dẫn về hen nặng nhằm loại trừ các chẩn đoán thay thế, bệnh lý đồng mắc và các yếu tố gây nhiễu có thể làm trầm trọng thêm tình trạng hen. Vì tình trạng kháng GC hầu như luôn mang tính tương đối và không ảnh hưởng rõ rệt đến phương hướng điều trị, nên việc xét nghiệm đặc hiệu để xác định tình trạng không nhạy cảm với GC là không cần thiết. (Xem ‘Đánh giá’ ở dưới.)
Cơ chế
Tình trạng kháng GC trong hen không thể giải thích bằng cơ chế kém hấp thu hoặc dược động học. Các khiếm khuyết trong sự gắn kết giữa GC với thụ thể glucocorticoid (GR), sự vận chuyển GR vào nhân tế bào và các hoạt động nội nhân của GR đều được đề xuất là những cơ chế chính gây kháng GC (hình 2). (Xem ‘Các cơ chế tiềm năng của tình trạng kháng glucocorticoid’ ở dưới.)
Cơ chế chính xác của tình trạng kháng GC trong hen vẫn chưa được làm rõ. Các cơ chế có thể bao gồm thay đổi quá trình cắt nối (splicing) của tiền mRNA thụ thể GR, thay đổi biểu hiện cytokine tiền viêm, giảm số lượng thụ thể GR và các thay đổi về biểu hiện di truyền (epigenetic) (hình 1). (Xem ‘Các cơ chế tiềm năng của tình trạng kháng glucocorticoid’ ở dưới.)
Ý nghĩa trong điều trị
- Hiện chưa rõ phương pháp điều trị tối ưu cho bệnh hen kháng GC. Chiến lược điều trị nên hướng tới việc giảm tổng liều GC toàn thân bằng cách sử dụng phương pháp điều trị từng đợt (pulsed approach) và tối ưu hóa các thuốc không chứa GC (ví dụ: thuốc chủ vận beta-2 tác dụng kéo dài, thuốc kháng muscarinic tác dụng kéo dài, thuốc kháng leukotriene), các liệu pháp không dùng thuốc (ví dụ: tránh các yếu tố kích phát và có thể thực hiện nội soi phế quản bằng nhiệt) và các liệu pháp sinh học đích (omalizumab, mepolizumab, benralizumab, reslizumab, dupilumab, tezepelumab). (Xem ‘Ý nghĩa trong điều trị’ ở dưới và “Điều trị hen nặng ở thanh thiếu niên và người lớn”, phần ‘Các phương pháp thử nghiệm’.)
Hướng phát triển trong tương lai
- Các loại thuốc mới đang được phát triển nhắm vào các con đường viêm khác của bệnh hen, chẳng hạn như các IL và thụ thể của chúng, các thụ thể chemokine (ví dụ: thụ thể chemokine C-C, CCR3), hoặc ngăn ngừa stress oxy hóa. Các chỉ dấu sinh học về sự tuân thủ điều trị, kiểu hình hen nặng có hoặc không có tăng bạch cầu ái toan, và các yếu tố dự đoán đáp ứng với các tác nhân điều trị mới cũng đang được nghiên cứu. (Xem ‘Hướng phát triển trong tương lai’ ở dưới, “Đặc điểm các kiểu hình hen nặng” và “Điều trị hen nặng ở thanh thiếu niên và người lớn”, phần ‘Các phương pháp thử nghiệm’.)
