TÓM TẮT
Biến thiên nhịp sinh học trong tần suất nhồi máu cơ tim – Tần suất xuất hiện nhồi máu cơ tim (MI), đột tử do tim và thiếu máu cục bộ cơ tim có sự biến thiên theo nhịp sinh học với đỉnh điểm vào buổi sáng. Điều này gợi ý rằng các biến cố tim mạch có thể được khởi phát bởi các hoạt động bên ngoài, đặc biệt là những hoạt động kích thích hệ thần kinh giao cảm. (Xem thêm ‘Biến thiên nhịp sinh học’ ở dưới.)
Các yếu tố thúc đẩy tâm lý xã hội – Hội chứng mạch vành cấp có thể khởi phát do căng thẳng (stress) cấp tính hoặc mạn tính, lo âu, trầm cảm và nóng giận. (Xem thêm ‘Các yếu tố thúc đẩy’ ở dưới.)
Sinh lý bệnh – Các cơ chế giả thuyết về việc căng thẳng tâm lý có thể khởi phát nhồi máu cơ tim cấp bao gồm: tăng huyết áp, tăng nhịp tim, tăng trương lực mạch máu và tăng khả năng ngưng tập tiểu cầu, từ đó có thể làm mất ổn định mảng xơ vữa dễ tổn thương. (Xem thêm ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Kiểm soát căng thẳng – Các can thiệp giúp giảm nhẹ căng thẳng ở bệnh nhân bệnh động mạch vành bao gồm kiểm soát cơn nóng giận, tập thư giãn, thiền định và tập thể dục. (Xem thêm ‘Kiểm soát căng thẳng’ ở dưới.)
Trầm cảm sau hội chứng mạch vành cấp
- Tỷ lệ lưu hành – Sau nhồi máu cơ tim, khoảng 20% bệnh nhân phát triển trầm cảm chủ yếu. (Xem thêm ‘Tỷ lệ lưu hành’ ở dưới.)
- Sàng lọc – Sau hội chứng mạch vành cấp, chúng tôi đề nghị sàng lọc trầm cảm cho bệnh nhân, với điều kiện có đầy đủ dịch vụ y tế để đảm bảo theo dõi, chẩn đoán và điều trị (Khuyến cáo 2C). Thông thường, việc sàng lọc được thực hiện trong vòng 3 tháng sau biến cố mạch vành cấp. Tuy nhiên, việc sàng lọc này không được chấp thuận một cách phổ biến. (Xem thêm ‘Sàng lọc’ ở dưới.)
- Hệ lụy bất lợi – Trầm cảm ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp liên quan đến tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong do tim và tăng tỷ lệ bệnh tật do tim. Ngoài ra, bệnh nhân nhồi máu cơ tim có nguy cơ tự sát trong vòng một tháng sau biến cố cao hơn so với những người không có tiền sử nhồi máu cơ tim. (Xem thêm ‘Hệ lụy bất lợi’ ở dưới.)
- Điều trị
Đối với bệnh nhân trầm cảm chủ yếu đơn cực sau hội chứng mạch vành cấp (ví dụ: trong vòng 3 tháng qua), chúng tôi đề nghị kết hợp trị liệu tâm lý và thuốc chống trầm cảm (Khuyến cáo 2C). Trị liệu tâm lý đơn thuần là lựa chọn hợp lý cho những bệnh nhân muốn tránh tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm và tương tác thuốc-thuốc; điều trị bằng thuốc đơn thuần là hợp lý đối với những bệnh nhân từ chối hoặc không có điều kiện tiếp cận trị liệu tâm lý. (Xem thêm ‘Lựa chọn phác đồ điều trị’ và ‘Trị liệu tâm lý kết hợp thuốc chống trầm cảm (ưu tiên)’ ở dưới.)
Khi lựa chọn trị liệu tâm lý (đơn thuần hoặc kết hợp thuốc), chúng tôi đề xuất liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) cho hầu hết bệnh nhân (Khuyến cáo 2C). Các lựa chọn thay thế hợp lý cho CBT bao gồm liệu pháp giải quyết vấn đề và liệu pháp tâm lý liên cá nhân. (Xem thêm ‘Trị liệu tâm lý’ ở dưới.)
Khi lựa chọn thuốc chống trầm cảm (đơn thuần hoặc kết hợp trị liệu tâm lý), chúng tôi đề xuất sử dụng nhóm thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs) như escitalopram hoặc sertraline thay vì các lựa chọn khác (Khuyến cáo 2C). Citalopram thường được tránh dùng cho bệnh nhân mắc bệnh tim do nguy cơ kéo dài khoảng QT phụ thuộc vào liều lượng. Các lựa chọn thay thế hợp lý cho SSRIs bao gồm nhóm thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRIs) như venlafaxine, và các thuốc chống trầm cảm không điển hình như bupropion và mirtazapine. (Xem thêm ‘Thuốc chống trầm cảm’ ở dưới.)
- Tập thể dục – Tập thể dục có thể mang lại lợi ích như một liệu pháp bổ trợ cho bệnh nhân trầm cảm chủ yếu đơn cực sau hội chứng mạch vành cấp. (Xem thêm ‘Tập thể dục’ ở dưới.)
