TÓM TẮT
Tổng quan và thuật toán điều trịCần tiếp cận bằng phương pháp phối hợp nhiều phương thức để quản lý bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú (LS-SCLC), sau khi đã đánh giá giai đoạn kỹ lưỡng để loại trừ di căn xa.
Đánh giá giai đoạnCác thành phần cần thiết của đánh giá giai đoạn bao gồm:
- Chụp cắt lớp vi tính (CT) ngực, bụng và vùng chậu có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch.
- Chụp cắt lớp phát xạ positron – cắt lớp vi tính (PET-CT).
- Chụp cộng hưởng từ (MRI) não (chụp CT não có thuốc cản quang nếu có chống chỉ định với MRI).
- Xạ hình xương (chỉ thực hiện nếu không có PET-CT).
Đối với bệnh nhân giai đoạn lâm sàng I-IIA (cT1a đến 2b, N0), cần thực hiện đánh giá giai đoạn xâm lấn hạch trung thất để xác định nhóm bệnh nhân nhỏ không có tổn thương hạch hoặc di căn khác.
Giai đoạn I-IIAĐối với bệnh nhân LS-SCLC giai đoạn lâm sàng I-IIA (cT1a đến 2b, N0), chúng tôi đề xuất phẫu thuật ban đầu kết hợp với điều trị bổ trợ, thay vì chỉ dùng hóa trị hoặc hóa xạ trị đơn thuần (Khuyến cáo 2C). Nếu bệnh nhân không đủ điều kiện phẫu thuật, hóa xạ trị là một lựa chọn thay thế phù hợp. (Xem ‘Giai đoạn I-IIA’ ở dưới.)
Sau phẫu thuật, nếu không phát hiện tổn thương hạch, chúng tôi đề xuất hóa trị bổ trợ thay vì hóa xạ trị (Khuyến cáo 2C).
Nếu có tổn thương hạch, chúng tôi đề xuất hóa trị nối tiếp sau đó là xạ trị (RT) hoặc hóa xạ trị đồng thời, thay vì chỉ hóa trị hoặc theo dõi (Khuyến cáo 2C).
Việc lựa chọn phác đồ điều trị bổ trợ tương tự như đối với bệnh nhân ở giai đoạn cao hơn, như được thảo luận dưới đây.
Bệnh nhân giai đoạn IIB đến III Hóa trịĐối với bệnh nhân LS-SCLC, chúng tôi khuyến cáo hóa trị dựa trên nền tảng platinum phối hợp hai loại thuốc (Khuyến cáo 1B).
Phác đồ ưu tiên – Khi lựa chọn phác đồ, chúng tôi đề xuất 4 chu kỳ cisplatin kết hợp etoposide (EP; (bảng 2)) (Khuyến cáo 2C). Phác đồ phối hợp này có thể dùng kết hợp với xạ trị (RT) đồng thời.
Các lựa chọn thay thế – Có thể thay thế cisplatin bằng carboplatin ở những bệnh nhân có chống chỉ định hoặc dung nạp kém với cisplatin. Cisplatin kết hợp irinotecan là một phác đồ chấp nhận được khác, nhưng có thể gây tác dụng phụ trên đường tiêu hóa nghiêm trọng hơn so với EP. (Xem ‘Hóa trị’ ở dưới.)
Xạ trị ngựcĐối với bệnh nhân LS-SCLC, chúng tôi khuyến cáo xạ trị ngực thay vì không xạ trị (Khuyến cáo 1B).
Thể tích điều trị – Chúng tôi đề xuất các trường xạ trị ngực giới hạn bao gồm khối u thô sau hóa trị và các thể tích hạch trước hóa trị, thay vì các trường xạ lớn hơn bao gồm cả thể tích khối u trước điều trị và/hoặc các vị trí hạch dự phòng (Khuyến cáo 2C). Khi có thể, nên thực hiện chụp PET cơ bản tại thời điểm chẩn đoán để lập kế hoạch xạ trị. (Xem ‘Thể tích điều trị’ ở dưới.)
Phác đồ phân liều và liều lượng – Có thể áp dụng phân liều truyền thống (tổng liều từ 60 đến 70 Gy với mỗi phân liều 2 Gy) hoặc các phác đồ siêu phân liều gia tốc. Khi áp dụng siêu phân liều gia tốc, chúng tôi thực hiện liều 45 Gy chia làm hai lần mỗi ngày trong ba tuần; tuy nhiên, lưu ý rằng liều 54 Gy (sử dụng kỹ thuật tăng liều tích hợp đồng thời – SIB) chia làm hai lần mỗi ngày có thể là một lựa chọn thay thế phù hợp ở một số bệnh nhân có tình trạng sức khỏe (performance status) tốt và đáp ứng được các giới hạn liều cho mô lành. (Xem ‘Phác đồ phân liều’ ở dưới.)
Thời điểm điều trị – Chúng tôi đề xuất bắt đầu xạ trị ngực đồng thời với chu kỳ hóa trị thứ nhất hoặc thứ hai, thay vì bắt đầu ở các chu kỳ sau hoặc xạ trị nối tiếp sau hóa trị (Khuyến cáo 2B). (Xem ‘Xạ trị ngực sớm so với muộn’ ở dưới.)
Consolidative durvalumabĐối với bệnh nhân LS-SCLC không tiến triển sau hóa xạ trị đồng thời, chúng tôi khuyến cáo điều trị củng cố bằng durvalumab (Khuyến cáo 1B). Thời gian điều trị lên đến hai năm hoặc cho đến khi bệnh tiến triển (tùy điều kiện nào đến trước). (Xem ‘Liệu pháp miễn dịch’ ở dưới.)
Xạ trị thùy não dự phòngXạ trị thùy não dự phòng được chỉ định cho hầu hết bệnh nhân LS-SCLC đạt được đáp ứng hoàn toàn hoặc đáp ứng một phần rất tốt sau hóa trị ban đầu. Các dữ liệu hỗ trợ được thảo luận ở phần khác. (Xem “Xạ trị thùy não dự phòng cho bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ”.)
