Ung thư phổi ở người chưa từng hút thuốc

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

  • Tỷ lệ mắc

    Mặc dù hầu hết các trường hợp ung thư phổi có nguyên nhân do hút thuốc lá, nhưng ung thư phổi ở những người chưa từng hút thuốc vẫn là một vấn đề quan trọng, với tỷ lệ mắc đã hiệu chỉnh theo độ tuổi ở những người chưa từng hút thuốc trong độ tuổi từ 40 đến 79 là từ 11,2 đến 13,7 trên 100.000 người-năm ở nam giới và từ 15,2 đến 20,8 trên 100.000 người-năm ở nữ giới. (Xem ‘Tỷ lệ mắc’ ở dưới.)

  • Yếu tố nguy cơ

    Mặc dù căn nguyên của ung thư phổi ở những người chưa từng hút thuốc không phải lúc nào cũng rõ ràng, các yếu tố nguy cơ bao gồm ô nhiễm không khí, khói thuốc lá thụ động, radon và các tác nhân tiếp xúc môi trường khác. Các nghiên cứu giải trình tự toàn bộ hệ gen (whole genome sequencing), giải trình tự toàn bộ exome (whole exome sequencing) và nghiên cứu tương quan toàn hệ gen (genome-wide association studies) quy mô lớn hơn đang được thực hiện để làm sáng tỏ thêm căn nguyên của ung thư phổi ở người chưa từng hút thuốc (LCINS). (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới và “Hút thuốc lá và các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn khác của ung thư phổi”.)

  • Giải phẫu bệnh

    Ung thư biểu mô tuyến là loại mô học phổ biến nhất ở những người chưa từng hút thuốc và có tỷ lệ cao hơn so với nhóm người từng hoặc đang hút thuốc. (Xem ‘Mô học’ ở dưới.)

  • Sinh học phân tử

    Có những sự khác biệt quan trọng ở mức độ phân tử giữa ung thư phổi phát sinh ở những người chưa từng hút thuốc và những người đang hoặc đã từng hút thuốc, chẳng hạn như sự gia tăng tỷ lệ các biến đổi sinh ung (oncogenic alterations) có thể nhắm mục tiêu. Rõ ràng nhất trong số này là các bất thường trong con đường thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). Những bất thường con đường EGFR này ở người chưa từng hút thuốc có liên quan đến khả năng đáp ứng đặc hiệu với erlotinib, gefitinib, afatinib, osimertinib và các thuốc ức chế tyrosine kinase của EGFR khác. Gen dung hợp kinase lympho anaplastic (AԼK) là một biến thể phân tử khác trong ung thư phổi không tế bào nhỏ, thường gặp hơn ở người chưa từng hút thuốc và đã có liệu pháp nhắm trúng đích. Các đột biến dẫn dắt (driver mutations) khác cũng được báo cáo là có sự gia tăng tần suất tương tự trong ung thư phổi ở người chưa từng hút thuốc. (Xem ‘Sinh học phân tử’ ở dưới.)

  • Điều trị

    Lựa chọn điều trị tối ưu cho đa số bệnh nhân LCINS phụ thuộc vào sự hiện diện của các biến đổi sinh ung dẫn dắt để có thể áp dụng các liệu pháp nhắm trúng đích tiềm năng. (Xem ‘Tiên lượng và ý nghĩa điều trị’ ở dưới và “Liệu pháp cá thể hóa dựa trên kiểu gen cho ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển”.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here