TÓM TẮT
Hướng dẫn iwCLL 2018
- Để đánh giá đáp ứng bệnh, Hội thảo Quốc tế về Bệnh bạch cầu kinh dòng lympho (iwCLL) đã công bố phiên bản cập nhật của bộ hướng dẫn do Nhóm Công tác Viện Ung thư Quốc gia (NCI/WG) đề xuất lần đầu vào năm 1996 (bảng 2). Những nỗ lực trong việc xây dựng các tiêu chuẩn chuẩn hóa nhằm đánh giá đáp ứng này giúp cho việc so sánh kết quả giữa các thử nghiệm lâm sàng khác nhau trở nên khả thi. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới).
Đánh giá đáp ứng
- Đối với người bệnh điều trị tại cơ sở y tế thông thường, quá trình đánh giá đáp ứng luôn bao gồm việc khai thác tiền sử, thăm khám lâm sàng và xét nghiệm công thức máu toàn bộ kèm theo phân loại bạch cầu. (Xem ‘Đánh giá đáp ứng’ ở dưới).
Việc khai thác tiền sử nên tập trung vào các triệu chứng toàn thân như sụt cân không chủ ý, mệt mỏi, sốt và đổ mồ hôi đêm.
Khám lâm sàng cần đặc biệt chú ý đến việc đánh giá tình trạng hạch ngoại biên, gan lớn và lách lớn.
Mặc dù sinh thiết tủy xương là yêu cầu bắt buộc để xác định tình trạng lui bệnh hoàn toàn, thủ thuật này không phải lúc nào cũng được khuyến cáo trong thực hành lâm sàng thông thường vì có thể không ảnh hưởng đến hướng điều trị. Chỉ định đánh giá tủy xương đặt ra cho người bệnh có tình trạng giảm tế bào máu chưa rõ nguyên nhân.
Tiêu chuẩn đáp ứng
- Mức độ đáp ứng được phân loại như sau (bảng 2) (xem ‘Các nhóm đáp ứng’ ở dưới):
- Lui bệnh hoàn toàn (CR)
- Lui bệnh hoàn toàn nhưng hồi phục tủy không hoàn toàn (CRi)
- Lui bệnh một phần (PR)
- Lui bệnh một phần dạng nốt (Nodular PR)
- Bệnh ổn định
- Bệnh tiến triển
Nếu các chỉ số lâm sàng và huyết học phù hợp với tiêu chuẩn lui bệnh hoàn toàn nhưng bác sĩ lâm sàng quyết định không thực hiện sinh thiết tủy xương, kết quả đáp ứng được ghi nhận là “lui bệnh một phần” hoặc “lui bệnh hoàn toàn trên lâm sàng, không sinh thiết tủy xương”. Trường hợp thứ hai không phải là một phân loại đáp ứng chính thống và không được sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng, nhưng lại ít mơ hồ hơn.
Sự huy động tế bào u và tăng bạch cầu lympho
- Quá trình điều trị bằng một số loại thuốc nhất định (ví dụ: các thuốc ức chế BTK hoặc PI3K) có thể dẫn đến hiện tượng huy động tế bào u vào máu ngoại vi và tăng bạch cầu lympho, nhưng hiện tượng này không được xem là biểu hiện của bệnh tiến triển. Đối với người bệnh điều trị bằng các thuốc này, chẩn đoán “bệnh tiến triển” chỉ nên áp dụng cho các trường hợp xuất hiện các dấu hiệu tiến triển rõ ràng khác (ví dụ: thiếu máu, giảm tiểu cầu, hạch lớn, gan lách lớn) bên cạnh tình trạng tăng bạch cầu lympho. Riêng hiện tượng tăng bạch cầu lympho đơn thuần không được làm ảnh hưởng đến việc xác định đáp ứng một phần. (Xem ‘Bệnh tiến triển’ ở dưới).
Bệnh tái phát và bệnh kháng trị
- Bệnh tái phát xảy ra ở người bệnh trước đó đã đạt được mức độ lui bệnh hoàn toàn hoặc lui bệnh một phần, nhưng sau đó bệnh tiến triển trở lại sau khoảng thời gian từ sáu tháng trở lên kể từ lần điều trị cuối cùng. (Xem “Điều trị bệnh bạch cầu lympho mạn tính tái phát hoặc kháng trị”).
- Những người bệnh không đạt được mức độ lui bệnh hoàn toàn hoặc lui bệnh một phần sau điều trị, hoặc những trường hợp bệnh tiến triển trong vòng sáu tháng kể từ khi điều trị được coi là bệnh kháng trị. (Xem “Điều trị bệnh bạch cầu lympho mạn tính tái phát hoặc kháng trị”).
