TÓM TẮT
Định nghĩa
- Xạ trị áp sát nội phế quản (EBBT) là kỹ thuật đặt nguồn phóng xạ vào trong hoặc gần khối u ác tính nhằm cung cấp liều bức xạ cao trực tiếp tại khối u. Nhu cầu áp dụng kỹ thuật này đã giảm đáng kể do sự phát triển của các phương pháp can thiệp nội soi hủy u khác hiệu quả và ít tốn kém hơn, bao gồm laser Nd:YAG (neodymium-doped yttrium aluminium garnet), đông máu huyết tương argon và liệu pháp áp lạnh. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Kỹ thuật
- EBBT chủ yếu là phương pháp điều trị giảm nhẹ cho ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) có xâm lấn đường thở. Do đó, mục tiêu chính của EBBT là làm giảm kích thước khối u nhằm giải tỏa các triệu chứng đường thở. Thông thường, ống nội soi phế quản mềm được sử dụng để đặt nguồn phóng xạ (thường là Iridium-192) vào trong hoặc sát tổn thương nội phế quản đích (thường là khối u ác tính). EBBT liều cao (HDR) có thể được thực hiện dưới hình thức điều trị ngoại trú và được sử dụng phổ biến hơn so với EBBT liều thấp (LDR) nhờ thời gian điều trị ngắn hơn và chi phí thấp hơn. (Xem ‘Kỹ thuật’ ở dưới.)
Lựa chọn bệnh nhân
- HDR EBBT không phải là liệu pháp điều trị bước một hoặc điều trị triệt căn cho ung thư phổi. HDR EBBT thường được chỉ định để điều trị giảm nhẹ các khối u trung tâm gây tắc nghẽn đường thở lớn (thường là NSCLC) có khả năng phẫu thuật cắt bỏ và/hoặc xạ trị ngoài. EBBT thường không được sử dụng đơn độc ở nhóm đối tượng này mà thường phối hợp với các liệu pháp can thiệp nội soi hủy u. (Xem ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới và ‘Điều trị giảm nhẹ khối u gây tắc nghẽn đường thở trung tâm’ ở dưới.)
- HDR EBBT cũng được áp dụng trong một số ít trường hợp để điều trị NSCLC đường thở tái phát, u đường thở di căn, NSCLC giai đoạn sớm khu trú tại đường thở, và hẹp khí quản lành tính đã kháng với các liệu pháp điều trị thông thường. (Xem ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới và ‘Khác’ ở dưới.)
Chống chỉ định
- Chống chỉ định của EBBT bao gồm sự hiện diện của rò giữa phế quản với các cấu trúc khác và tắc nghẽn đường thở mức độ nặng. Ngoài ra, không nên thực hiện EBBT cho bệnh nhân đang trong tình trạng hấp hối hoặc những bệnh nhân có chống chỉ định chung đối với nội soi phế quản. (Xem ‘Chống chỉ định’ ở dưới.)
Biến chứng
- Biến chứng của EBBT khá phổ biến (lên đến 40%), thường xảy ra từ vài ngày đến vài tuần sau thủ thuật. Các biến chứng bao gồm viêm phế quản do bức xạ và hẹp đường thở, cũng như các biến chứng đáng lo ngại hơn như loét khí quản, ho ra máu gây tử vong và hình thành rò với các cấu trúc xung quanh. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)
