TÓM TẮT
Bối cảnh
- Biểu hiện ở vùng hậu môn – trực tràng trong bệnh Crohn bao gồm rò hậu môn, áp-xe quanh hậu môn và các tổn thương ống hậu môn (nứt hậu môn và hẹp hậu môn). Triệu chứng rất đa dạng, từ đau trực tràng, tiết dịch quanh hậu môn đến chảy máu hoặc đại tiện khó khăn. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới).
Đánh giá ban đầu
- Ở bệnh nhân Crohn, nguyên nhân gây ra các triệu chứng ở vùng hậu môn được xác định thông qua việc quan sát vùng da quanh hậu môn và hậu môn, thăm khám trực tràng bằng tay, và khi cần thiết, tiến hành thăm khám kỹ hơn dưới gây mê (bảng 1). (Xem ‘Đánh giá ban đầu về các triệu chứng’ ở dưới).
Rò hậu môn
- Ở bệnh nhân Crohn, các đường rò hình thành do ổ áp-xe xuyên thấu và/hoặc tình trạng viêm lan vào cơ quan lân cận hoặc ra da. Các lỗ rò thường xuất hiện nhất ở vùng da quanh hậu môn, nhưng cũng có thể lan đến các vị trí khác (như vùng bẹn, âm đạo, bàng quang). (Xem ‘Sinh bệnh học’ ở dưới).
Chẩn đoán
- Ở bệnh nhân Crohn, việc chẩn đoán rò hậu môn dựa trên các đặc điểm phát hiện được qua hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng: lỗ rò ngoài da thường kèm theo dịch tiết vùng quanh hậu môn, có hoặc không kèm theo đau trực tràng. Mặc dù các phương pháp chẩn đoán hình ảnh không bắt buộc đối với các trường hợp rò đơn giản, nhưng chúng rất hữu ích trong việc loại trừ áp-xe, xác định rõ đường rò và lên kế hoạch điều trị. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới và “Vai trò của các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh trong việc đánh giá áp-xe và rò hậu môn”).
Quản lý điều trị
- Đối với phần lớn bệnh nhân Crohn có rò hậu môn, mục tiêu điều trị cốt lõi là đóng kín hoàn toàn đường rò. Ở một số bệnh nhân rò hậu môn phức tạp, mục tiêu điều trị khả thi là cải thiện triệu chứng (ví dụ: giảm đau trực tràng, giảm tiết dịch) và nâng cao chất lượng cuộc sống, ngay cả khi đường rò chưa thể lành và đóng kín hoàn toàn. (Xem ‘Mục tiêu và trình tự điều trị’ ở dưới).
- Rò đơn giản – Đối với bệnh nhân rò đơn giản nhưng không có triệu chứng, chúng ta nhìn chung không bắt đầu điều trị đặc hiệu cho đường rò, trong khi vẫn tiếp tục điều trị bệnh Crohn gốc. (Xem ‘Bệnh nhân không có triệu chứng’ ở dưới).
- Đối với bệnh nhân Crohn có rò hậu môn kèm theo triệu chứng (ví dụ: đau trực tràng, tiết dịch quanh hậu môn), chúng tôi đề nghị kết hợp liệu pháp kháng sinh bên cạnh việc điều trị bệnh Crohn gốc thay vì không dùng kháng sinh (Khuyến cáo 2C). Đối với trường hợp rò đơn giản, chúng tôi thường sử dụng metronidazole đường uống với liều 500 mg, uống 2 lần mỗi ngày trong bốn tuần, đồng thời điều chỉnh liều dựa trên đáp ứng lâm sàng và khả năng dung nạp của bệnh nhân. (Xem ‘Điều trị khởi đầu’ ở dưới).
- Rò phức tạp – Đối với bệnh nhân rò hậu môn phức tạp, việc đầu tiên cần làm là thăm khám dưới gây mê để dẫn lưu ổ áp-xe và đặt chỉ bắt rò (seton) (nếu cần). Chúng tôi thường sử dụng metronidazole đường uống 500 mg, 2 lần mỗi ngày (hoặc ciprofloxacin 500 mg, 2 lần mỗi ngày) trong thời gian hai tuần, kết hợp với liệu pháp kháng thụ thể hoại tử u (anti-TNF) (sơ đồ thuật toán 1). (Xem ‘Rò phức tạp’ ở dưới và “Điều trị nội khoa bệnh Crohn từ trung bình đến nặng ở người lớn”, phần ‘Liệu pháp cảm ứng’).
- Đối với bệnh nhân Crohn có rò hậu môn đáp ứng với liệu pháp cảm ứng bằng thuốc kháng TNF, chúng tôi đề nghị tiếp tục duy trì điều trị bằng thuốc kháng TNF đó (Khuyến cáo 2B). (Xem ‘Liệu pháp thuốc’ ở dưới).
Áp-xe quanh hậu môn
- Ở bệnh nhân Crohn có áp-xe quanh hậu môn, phác đồ điều trị bao gồm phẫu thuật dẫn lưu kịp thời, đặt chỉ seton để dẫn lưu liên tục (nếu xác định được đường rò), kết hợp một đợt kháng sinh (thường dùng metronidazole hoặc ciprofloxacin). (Xem ‘Áp-xe cạnh hậu môn’ ở dưới và “Áp-xe quanh hậu môn và quanh trực tràng”).
Nứt hậu môn
- Đối với bệnh nhân Crohn có nứt hậu môn, điều trị bao gồm các biện pháp hỗ trợ (ngâm nước ấm, thuốc giảm đau tại chỗ như gel lidocaine) kết hợp thuốc làm giãn mạch tại chỗ (nifedipine hoặc nitroglycerin). Nên tránh phẫu thuật ở bệnh nhân đang có đợt viêm trực tràng hoạt động vì dễ dẫn đến tình trạng vết thương lâu lành. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới và “Nứt hậu môn: Điều trị nội khoa”).
