TÓM TẮT
Di truyền và bệnh sinh – Thiếu hụt adenosine deaminase (ADA) (MIM #102700) là một rối loạn di truyền hiếm gặp, di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, gây ra bởi các biến thể gây bệnh trong gen ADA1 tại vị trí 20q13.11 (MIM *608958). Khi thiếu hụt enzyme ADA có chức năng, adenosine và deoxyadenosine sẽ tích tụ trong tế bào. Các sản phẩm này gây độc cho tế bào lympho, dẫn đến rối loạn chức năng của tế bào T, B và tế bào diệt tự nhiên (NK), với mức độ nghiêm trọng dao động từ suy giảm miễn dịch kết hợp nặng (SCID) đến các kiểu hình nhẹ hơn. Phổ kiểu hình rộng của thiếu hụt ADA phần lớn liên quan đến sự biến thiên của các đột biến di truyền. (Xem thêm ‘Bệnh sinh’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Thiếu hụt ADA thường dẫn đến suy giảm miễn dịch kết hợp nặng (SCID) (bảng 1), khởi phát trong vài tháng đầu đời, trừ trường hợp được phát hiện sớm thông qua sàng lọc sơ sinh (NBS). Tuy nhiên, một số ít bệnh nhân khởi phát muộn hơn với bệnh cảnh tương đối nhẹ. Các dấu hiệu và triệu chứng điển hình của SCID bao gồm chậm tăng trưởng, nhiễm trùng đe dọa tính mạng, nhiễm nấm niêm mạc da mạn tính và/hoặc nhiễm trùng cơ hội. Những đặc điểm gợi ý thiếu hụt ADA mà không điển hình ở các thể SCID khác bao gồm: khởi phát sớm tình trạng chậm tăng trưởng và suy hô hấp không do nhiễm trùng (thường trước 4 tháng tuổi), bất thường lồng ngực, bất thường thần kinh sớm và mất thính lực tiếp nhận. Ở những trường hợp khởi phát muộn, tình trạng nhiễm trùng tái diễn, nhiễm trùng cơ hội và giảm lympho không rõ nguyên nhân có thể làm tăng nghi ngờ về một thể thiếu hụt ADA không điển hình. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – SCID được nghi ngờ khi có kết quả NBS dương tính hoặc trẻ sơ sinh có các biểu hiện điển hình. Các phát hiện bổ sung hỗ trợ chẩn đoán thiếu hụt ADA bao gồm (xem ‘Kết quả xét nghiệm, X-quang và mô bệnh học’ và ‘Chẩn đoán’ ở dưới):
- Thiếu hụt ADA trong hồng cầu ly giải và tăng nồng độ adenosine, deoxyadenosine trong nước tiểu và huyết tương.
- Thiếu hụt tế bào T nghiêm trọng biểu hiện bằng giảm lympho và đáp ứng kém của tế bào T với các chất gây phân bào (mitogens) và kháng nguyên; hầu hết bệnh nhân không có khả năng đáp ứng kháng thể đặc hiệu, tuy nhiên nồng độ immunoglobulin thay đổi tùy trường hợp.
- Mất bóng tuyến ức trên X-quang ngực (hình 1). Các bất thường X-quang khác gặp trong thiếu hụt ADA mà không thấy ở các thể SCID khác bao gồm: xương sườn trước xòe rộng và bờ dưới ngoài xương bả vai bị vuông hoặc có gai (hình 2).
- Chẩn đoán được xác nhận bằng cách xác định các biến thể gây bệnh biallelic trong gen ADA1. Mức độ hoạt động của biến thể sai nghĩa (missense variant) trong gen ADA hoạt động mạnh hơn sẽ tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt với thiếu hụt ADA bao gồm tất cả các thể SCID di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường khác, hội chứng DiGeorge toàn phần và thiếu hụt purine nucleoside phosphorylase. (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
