TÓM TẮT
Phương pháp đo huyết áp – Huyết áp (HA) có thể được đo bằng nhiều phương pháp khác nhau (bảng 1). Để đo HA chính xác bằng bất kỳ phương pháp nào, cần tuân thủ đúng quy trình và kỹ thuật, bao gồm việc lựa chọn kích thước bao đo phù hợp (bảng 2 và bảng 3). (Xem thêm mục ‘Quy trình đo huyết áp chính xác’ ở dưới.)
Sàng lọc và đánh giá tăng huyết áp
- Sàng lọc – Hầu hết bệnh nhân được đo HA trong mỗi lần thăm khám tại phòng khám bằng phương pháp đo không chuẩn hóa (bảng 1). Mặc dù chúng tôi không khuyến khích sử dụng phương pháp đo không chuẩn hóa để chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp, nhưng đây là công cụ sàng lọc ban đầu hữu ích để nhận diện những bệnh nhân nghi ngờ tăng huyết áp. (Xem thêm mục ‘Các phương pháp đo huyết áp’ ở dưới.)
- Chẩn đoán tăng huyết áp – Việc chẩn đoán tăng huyết áp đòi hỏi phải đo HA nhiều lần trong nhiều thời điểm khác nhau, sử dụng một trong ba phương pháp (bảng 1). Đa số bệnh nhân được chẩn đoán tăng huyết áp thông qua phương pháp đo HA tại phòng khám. (Xem thêm mục ‘Đo HA chuẩn hóa tại phòng khám (phương pháp thay thế)’ ở dưới.)
Khi có điều kiện sử dụng theo dõi HA lưu động (ABPM) hoặc tự đo HA tại nhà (SMBP), các phương pháp này được ưu tiên hơn trong chẩn đoán. Những phương pháp này có khả năng dự báo kết cục tim mạch tốt hơn so với đo tại phòng khám, đồng thời tránh được hiện tượng tăng huyết áp áo choàng trắng hoặc tăng huyết áp ẩn. (Xem thêm mục ‘Các lựa chọn để thiết lập chẩn đoán’ và ‘Tăng huyết áp áo choàng trắng’ ở dưới.)
- Định nghĩa – Chúng tôi áp dụng định nghĩa và hệ thống phân độ của Trường Cao đẳng Tim mạch Hoa Kỳ/Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA) để phân loại HA:
- HA bình thường: Tâm thu <120 mmHg và tâm trương <80 mmHg
- HA cao: Tâm thu 120 đến 129 mmHg và tâm trương <80 mmHg
- Tăng huyết áp:
- Giai đoạn 1: Tâm thu 130 đến 139 mmHg hoặc tâm trương 80 đến 89 mmHg
- Giai đoạn 2: Tâm thu ít nhất 140 mmHg hoặc tâm trương ít nhất 90 mmHg
Nếu có sự khác biệt về phân loại giữa chỉ số tâm thu và tâm trương, giá trị cao hơn sẽ được dùng để xác định giai đoạn. (Xem thêm mục ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
- Tiêu chuẩn chẩn đoán – Chiến lược đo HA sẽ quyết định mức HA trung bình và số lần đo cần thiết để chẩn đoán tăng huyết áp (xem mục ‘Các lựa chọn để thiết lập chẩn đoán’ và ‘Tiêu chuẩn chẩn đoán’ ở dưới):
- Đo HA tại phòng khám – HA trung bình ≥130 mmHg (tâm thu) hoặc 80 mmHg (tâm trương), dựa trên ít nhất hai lần đo trong một lần thăm khám, thực hiện trong ít nhất hai lần thăm khám cách nhau tối thiểu một tuần, sử dụng phương pháp đo chuẩn hóa tại phòng khám (ví dụ: đo HA tự động tại phòng khám không có nhân viên y tế theo dõi [AOBP], AOBP có nhân viên theo dõi, hoặc đo HA phòng khám thông thường). (Xem thêm mục ‘Đo HA chuẩn hóa tại phòng khám (phương pháp thay thế)’ ở dưới.)
Tăng huyết áp cũng được chẩn đoán khi:
- Một lần đo chuẩn hóa duy nhất tại phòng khám cho kết quả tâm thu >180 mmHg và/hoặc tâm trương >120 mmHg.
- Một lần đo chuẩn hóa duy nhất tại phòng khám cho kết quả tâm thu >160 mmHg và/hoặc tâm trương >100 mmHg nếu có bằng chứng tổn thương cơ quan đích (ví dụ: bệnh động mạch vành, suy tim, phì đại thất trái, đột quỵ, bệnh võng mạc do tăng huyết áp, bệnh thận mạn).
- ABPM – HA trung bình 24 giờ ≥125/75 mmHg hoặc HA trung bình ban ngày ≥130/80 mmHg. (Xem thêm mục ‘ABPM’ ở dưới.)
- SMBP – HA trung bình ≥130/80 mmHg với ít nhất 12 lần đo trong ít nhất một tuần, bao gồm cả đo buổi sáng và buổi tối. (Xem thêm mục ‘SMBP’ ở dưới.)
- Đo HA tại phòng khám – HA trung bình ≥130 mmHg (tâm thu) hoặc 80 mmHg (tâm trương), dựa trên ít nhất hai lần đo trong một lần thăm khám, thực hiện trong ít nhất hai lần thăm khám cách nhau tối thiểu một tuần, sử dụng phương pháp đo chuẩn hóa tại phòng khám (ví dụ: đo HA tự động tại phòng khám không có nhân viên y tế theo dõi [AOBP], AOBP có nhân viên theo dõi, hoặc đo HA phòng khám thông thường). (Xem thêm mục ‘Đo HA chuẩn hóa tại phòng khám (phương pháp thay thế)’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt
- Tăng huyết áp áo choàng trắng – Xảy ra khi HA đo tại phòng khám đạt tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp, nhưng HA đo ngoài phòng khám nằm trong giới hạn bình thường. Do nguy cơ điều trị quá mức, không nên khởi trị hoặc tăng liều thuốc cho những bệnh nhân này. Thay vào đó, cần theo dõi HA ngoài phòng khám định kỳ vì những bệnh nhân này có nguy cơ tiến triển thành tăng huyết áp thực sự theo thời gian. (Xem thêm mục ‘Tăng huyết áp áo choàng trắng’ ở dưới.)
- Tăng huyết áp ẩn – Xảy ra khi HA đo ngoài phòng khám đạt tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp, nhưng HA đo tại phòng khám nằm trong giới hạn bình thường. Cần khởi trị thuốc hạ áp kịp thời cho những bệnh nhân này do tăng huyết áp ẩn liên quan đến tăng nguy cơ gặp các biến cố tim mạch bất lợi. (Xem thêm mục ‘Tăng huyết áp ẩn’ ở dưới.)
Đánh giá bổ sung và theo dõi – Bệnh nhân mới chẩn đoán hoặc nghi ngờ tăng huyết áp cần được khai thác bệnh sử chi tiết, thăm khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm bổ sung để đánh giá tổn thương cơ quan đích, nguy cơ tim mạch và tìm nguyên nhân gây tăng huyết áp thứ phát (bảng 8). (Xem thêm mục ‘Đánh giá bổ sung và theo dõi’ ở dưới.)
Trường hợp tăng huyết áp mức độ nặng có bằng chứng tổn thương cơ quan đích có thể cần chuyển tuyến cấp cứu hoặc khởi trị thuốc hạ áp khẩn cấp. (Xem thêm “Quản lý tăng huyết áp nặng không triệu chứng (cấp cứu tăng huyết áp) ở người trưởng thành”.)
Đối với bệnh nhân có HA tâm thu >180 mmHg hoặc tâm trương >100 mmHg được quản lý ngoại trú, cần tái khám trong vòng vài ngày. Với bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn 1 hoặc 2 không biến chứng, không có bệnh tim mạch lâm sàng hoặc tổn thương cơ quan đích, chúng tôi đề xuất tái khám mỗi 4 tuần sau khi khởi trị thuốc và sau mỗi lần thay đổi thuốc cho đến khi HA đạt mục tiêu.
