Liệu pháp tái đồng bộ cơ tim trong suy tim tâm thu: Chỉ định và lựa chọn hệ thống

TÓM TẮT

Ảnh hưởng của tình trạng mất đồng bộ và mục tiêu của liệu pháp tái đồng bộ tim – Trong bệnh lý cơ tim, tình trạng mất đồng bộ dẫn đến sự co bóp không hiệu quả của thất trái (LV), làm giảm cung lượng tim, trầm trọng hơn tình trạng hở van hai lá cơ năng và thúc đẩy quá trình tái cấu trúc thất trái bất lợi (ví dụ: giãn thất).

Tiếp cận chung trong liệu pháp tái đồng bộ tim (CRT)

Triệu chứng suy tim, LBBB ≥150 ms, LVEF ≤35% – Ở những bệnh nhân HFrEF đã được điều trị tối ưu, có triệu chứng suy tim theo phân loại NYHA từ nhóm II đến nhóm IV còn khả năng vận động, phân suất tống máu thất trái (LVEF) ≤35%, nhịp xoang và block nhánh trái (LBBB) với thời gian QRS ≥150 ms, chúng tôi khuyến cáo đặt CRT (sơ đồ 1) (Khuyến cáo 1A). (Xem ‘Triệu chứng suy tim, LBBB với QRS ≥150 ms, EF ≤35%’ ở dưới.)

Các chỉ định khác

  • LBBB với thời gian QRS ngắn hơn (120 đến 149 ms) – Ở những bệnh nhân HFrEF đã điều trị tối ưu, có triệu chứng suy tim NYHA nhóm II đến nhóm IV còn khả năng vận động, LVEF ≤35%, nhịp xoang và LBBB với thời gian QRS ≥120 ms và <150 ms, chúng tôi đề xuất CRT (sơ đồ 1) (Khuyến cáo 2B). Các thử nghiệm bao gồm bệnh nhân có khoảng QRS đa dạng (ví dụ: ≥120 ms) cho thấy lợi ích tổng thể của CRT, nhưng kết quả này chủ yếu có thể phản ánh hiệu quả ở những bệnh nhân có QRS ≥150 ms. (Xem ‘LBBB với thời gian QRS ngắn hơn (120 đến 149 ms)’ ở dưới.)
  • RBBB và chậm dẫn truyền trong thất – Ở những bệnh nhân HFrEF đã điều trị tối ưu, có triệu chứng suy tim NYHA nhóm II đến nhóm IV còn khả năng vận động, LVEF ≤35%, nhịp xoang, thời gian QRS ≥120 ms và có block nhánh phải (RBBB) hoặc chậm dẫn truyền trong thất (IVCD) không đặc hiệu, việc quyết định CRT cần được cá thể hóa (sơ đồ 1). Ở những bệnh nhân này, cần sự đánh giá kỹ lưỡng từ bác sĩ điện sinh lý để xác định rõ lợi ích và rủi ro khi đặt CRT. (Xem ‘RBBB và chậm dẫn truyền trong thất’ ở dưới.)
  • Rối loạn chức năng tâm thu thất trái không triệu chứng – Ở những bệnh nhân HFrEF đã điều trị tối ưu, LVEF ≤35%, nhịp xoang và LBBB với QRS ≥150 ms nhưng không có triệu chứng suy tim (tức là triệu chứng NYHA nhóm I), chúng tôi đề xuất CRT (sơ đồ 1) (Khuyến cáo 2B). Với những bệnh nhân tương tự có QRS <150 ms, chúng tôi theo dõi sự xuất hiện của các triệu chứng suy tim trước khi đặt hệ thống CRT. (Xem ‘Rối loạn chức năng tâm thu thất trái không triệu chứng’ ở dưới.)
  • Phân suất tống máu >35% và <50% – Đối với bệnh nhân HFrEF đã điều trị tối ưu, có triệu chứng suy tim NYHA nhóm II đến nhóm IV còn khả năng vận động, nhịp xoang, LBBB với QRS ≥120 ms, LVEF >35% và <50%, đồng thời có chỉ định khác để đặt thiết bị cấy ghép (ví dụ: block nhĩ thất, máy phá rung tim cấy ghép [ICD]), chúng tôi đề xuất CRT thay vì đặt thiết bị hai buồng hoặc ICD đơn thuần (sơ đồ 1) (Khuyến cáo 2B). (Xem ‘Phân suất tống máu >35% và <50%’ ở dưới.)
  • Suy tim nhóm IV không còn khả năng vận động – Chúng tôi tránh đặt CRT cho bệnh nhân suy tim nhóm IV không còn khả năng vận động; thay vào đó, những bệnh nhân này nên được đánh giá để áp dụng các liệu pháp điều trị suy tim giai đoạn tiến triển (ví dụ: ghép tim, đặt thiết bị hỗ trợ thất trái [LVAD]). (Xem ‘Suy tim nhóm IV không còn khả năng vận động’ ở dưới.)
  • Rung nhĩ – Các bằng chứng bổ sung về hiệu quả của CRT ở bệnh nhân rung nhĩ được thảo luận riêng. (Xem “Liệu pháp tái đồng bộ tim trong rung nhĩ”.)
  • Các trường hợp đặc biệt – Những bệnh nhân mà CRT có thể có vai trò dù không nằm trong các chỉ định tiêu chuẩn bao gồm (sơ đồ 1):

Lựa chọn ban đầu hệ thống CRT – Ở bệnh nhân HFrEF có chỉ định CRT, chúng tôi đề xuất sử dụng điện cực xoang tĩnh mạch vành là phương pháp tiếp cận ban đầu để thiết lập CRT thay vì các phương pháp tạo nhịp CRT khác (ví dụ: tạo nhịp vùng nhánh trái [LBBAP]) (Khuyến cáo 2C).

Các phương pháp tiếp cận thay thế – Ở những bệnh nhân không thể đặt điện cực xoang tĩnh mạch vành, việc tiếp cận đặt điện cực hệ thống dẫn truyền hoặc điện cực thượng tâm mạc sẽ được cá thể hóa theo đặc điểm của bệnh nhân và kinh nghiệm của trung tâm trong việc đặt điện cực thay thế. Các lựa chọn bao gồm:

  • Kích thích hệ thống dẫn truyền – Ở bệnh nhân không thể đặt điện cực xoang tĩnh mạch vành, LBBAP là một lựa chọn cho CRT. Hệ thống tạo nhịp bó His hiếm khi được dùng cho CRT do nguy cơ biến chứng cao hơn so với hệ thống LBBAP. (Xem ‘Kích thích hệ thống dẫn truyền’ ở dưới.)
  • Đặt điện cực thượng tâm mạc – Đặt điện cực thượng tâm mạc, yêu cầu phải mở ngực, được dành cho những bệnh nhân không thể đặt điện cực qua tĩnh mạch hoặc có chỉ định phẫu thuật tim, chẳng hạn như phẫu thuật bắc cầu động mạch vành hoặc thay van tim. (Xem ‘Đặt điện cực thượng tâm mạc’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here