TÓM TẮT
Phổ bệnh lý u tuyến nước bọt
- U tuyến nước bọt bao gồm một nhóm hiếm gặp với nhiều thể mô bệnh học lành tính và ác tính khác nhau. (Xem ‘Phổ bệnh lý u tuyến nước bọt’ phía trên).
U tuyến mang tai
- Phần lớn các u tuyến nước bọt là lành tính và xuất hiện ở tuyến mang tai (hình 1). U tuyến đa dạng (u hỗn hợp) là dạng tổn thương lành tính phổ biến nhất trong số này.
Các u tuyến nước bọt khác
- Các khối u ở tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi và các tuyến nước bọt phụ có nguy cơ ác tính cao hơn so với u tuyến mang tai.
Triệu chứng lâm sàng
- Hầu hết người bệnh có u tuyến nước bọt đến khám với biểu hiện là một khối u không đau hoặc sưng nề. Các dấu hiệu hoặc triệu chứng thần kinh, chẳng hạn như liệt dây thần kinh mặt, cho thấy sự xâm lấn dây thần kinh mặt và hầu như luôn là dấu hiệu của một khối u ác tính. (Xem ‘Triệu chứng lâm sàng’ phía trên).
Chẩn đoán phân biệt
- Chẩn đoán phân biệt của một khối u tuyến nước bọt bao gồm một loạt các rối loạn dạng nang, viêm cũng như các khối u lành tính và ác tính (bảng 1).
Đánh giá ban đầu
- Đánh giá ban đầu đối với một trường hợp u tuyến nước bọt bao gồm (xem ‘Đánh giá ban đầu’ phía trên):
Tiền sử và thăm khám lâm sàng
- Việc khai thác tiền sử nên đánh giá thời gian khối u xuất hiện, tốc độ phát triển, sự hiện diện của đau, tê, hoặc bất kỳ sự bất đối xứng tinh tế nào trong chuyển động của khuôn mặt, cùng với tiền sử ung thư da trước đó. Khám thực thể phải bao gồm việc đánh giá khối u nguyên phát và các cấu trúc xung quanh, vùng cổ để tìm hạch cổ, và khám chi tiết chức năng dây thần kinh mặt. (Xem ‘Tiền sử và thăm khám lâm sàng’ phía trên).
Chẩn đoán hình ảnh
- Cả chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể cần thiết để đánh giá mức độ xâm lấn tại chỗ hoặc sự di căn của khối u. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ phía trên).
- Siêu âm có thể hữu ích trong việc khảo sát các tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi, đồng thời hỗ trợ cho thủ thuật chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) và sinh thiết lõi kim.
Chẩn đoán
- Cần có chẩn đoán mô bệnh học để xác định chắc chắn u tuyến nước bọt và lên kế hoạch điều trị. Nếu khả thi về mặt giải phẫu, có thể tiến hành sinh thiết trước mổ (hoặc là tế bào học FNA hoặc sinh thiết lõi dưới hướng dẫn của siêu âm) nhằm tránh phẫu thuật nhầm cho một bệnh lý không điều trị bằng ngoại khoa, đồng thời hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật. Tuy nhiên, chẩn đoán mô bệnh học trước mổ không phải lúc nào cũng khả thi. (Xem ‘Chẩn đoán’ phía trên).
Xếp giai đoạn
- Các bệnh lý ác tính của tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi được xếp giai đoạn theo hệ thống phân loại khối u, hạch, di căn (TNM) của Ủy ban Liên kết về Ung thư Hoa Kỳ và Liên minh Kiểm soát Ung thư Quốc tế (bảng 3 và bảng 4). (Xem ‘Xếp giai đoạn’ phía trên).
- Các khối u khởi phát từ các tuyến nước bọt phụ được xếp giai đoạn theo vị trí giải phẫu nguyên phát của chúng.
- Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh sử dụng CT và MRI (thường được thực hiện trước khi có chẩn đoán), và trong một số trường hợp là chụp cắt lớp phát xạ positron (PET), có thể cung cấp thông tin quan trọng về mức độ xâm lấn tại chỗ hoặc sự di căn.
