Xạ trị bổ trợ hoặc hóa xạ trị kết hợp trong quản lý ung thư đầu mặt cổ

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Mục tiêu của xạ trị (RT) bổ trợ

  • Những bệnh nhân được chọn lọc mắc ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu cổ, đã được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ ban đầu và có nguy cơ tái phát tại chỗ – vùng cao, sẽ được chỉ định xạ trị (RT) bổ trợ (tức là sau phẫu thuật), có hoặc không kết hợp với hóa trị, nhằm mục tiêu cải thiện kiểm soát tại chỗ – vùng và sống còn. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Các đặc điểm lâm sàng – giải phẫu bệnh cho thấy nguy cơ tái phát

  • Đối với những bệnh nhân đã phẫu thuật điều trị ung thư đầu cổ giai đoạn tiến triển tại chỗ – vùng, chúng tôi khuyến cáo xạ trị (RT) bổ trợ cho những trường hợp có các đặc điểm nguy cơ cao sau đây (Khuyến cáo 1B) (xem ‘Hướng tiếp cận quản lý bổ trợ’ ở dưới):
    • Giai đoạn u tiến triển (T3/T4).
    • Diện cắt dương tính hoặc diện cắt sát.
    • Có từ hai hạch lympho dương tính trở lên (N2/N3).
    • Xâm lấn ngoài màng bao hạch – Hiện chưa có đủ dữ liệu để giảm liều xạ trị bổ trợ hoặc loại bỏ hóa xạ trị ở bệnh nhân ung thư vùng hầu họng liên quan đến virus gây u nhú ở người (HPV) so với ung thư không liên quan đến HPV.
    • Xâm lấn quanh thần kinh hoặc xâm lấn mạch – bạch huyết.

Chỉ định hóa xạ trị bổ trợ trong bệnh lý nguy cơ cao

Tuy nhiên, cần có thêm dữ liệu về lợi ích của hóa xạ trị bổ trợ so với xạ trị bổ trợ đơn thuần trong các khối u liên quan đến HPV có xâm lấn ngoài màng bao hạch, vì các nghiên cứu quan sát cho kết quả không đồng nhất và các thử nghiệm lâm sàng tiến cứu còn hạn chế. (Xem ‘Hướng tiếp cận quản lý bổ trợ’ ở dưới và “Điều trị ung thư vùng hầu họng liên quan đến virus gây u nhú ở người”, phần ‘Liệu có vai trò giảm cường độ điều trị?’.)

Ngoài ra, dữ liệu chưa cho thấy lợi ích rõ rệt của việc thêm hóa trị vào xạ trị bổ trợ đối với những trường hợp có từ hai hạch lympho dương tính trở lên nhưng không có xâm lấn ngoài màng bao hạch hoặc diện cắt dương tính. Việc sử dụng hóa trị cho những bệnh nhân này nên được quyết định dựa trên từng trường hợp cụ thể, mặc dù các dữ liệu hồi cứu gợi ý rằng hóa xạ trị có thể mang lại lợi ích về sống còn.

Đối với những bệnh nhân đủ điều kiện điều trị bằng hóa trị dựa trên platinum, chúng tôi khuyến cáo dùng cisplatin hàng tuần (40 mg/m2 mỗi tuần) thay vì dùng cisplatin truyền nhanh (bolus) (100 mg/m2 mỗi ba tuần trong ba liều) đồng thời với xạ trị (Khuyến cáo 1B). (Xem ‘Hóa trị dựa trên platinum’ ở dưới.)

Đối với những bệnh nhân không có chỉ định điều trị bằng cisplatin, chúng tôi đề xuất chỉ xạ trị đơn thuần thay vì hóa xạ trị đồng thời với carboplatin hoặc các thuốc hệ thống khác. (Xem ‘Carboplatin’ và ‘Các phác đồ khác’ ở dưới.)

Chỉ định hóa xạ trị bổ trợ trong bệnh lý nguy cơ trung bình

  • Những bệnh nhân có nguy cơ tái phát trung bình thường có các yếu tố nguy cơ tái phát như xâm lấn quanh thần kinh hoặc mạch máu, có từ hai hạch lympho trở lên hoặc u giai đoạn T3 và T4, nhưng có diện cắt âm tính và không có xâm lấn ngoài màng bao hạch. Chúng tôi đề xuất những bệnh nhân này điều trị bằng xạ trị đơn thuần hoặc kết hợp cetuximab với xạ trị. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ nhóm bệnh nhân nào có thể hưởng lợi từ việc kết hợp cetuximab và xạ trị so với chỉ xạ trị đơn thuần.

Chỉ định xạ trị (RT) bổ trợ

  • Đối với những bệnh nhân có tăng nguy cơ tái phát nhưng không có diện cắt dương tính hoặc không có xâm lấn ngoài màng bao hạch, hoặc không có chỉ định dùng cetuximab, chúng tôi đề xuất xạ trị bổ trợ mà không kèm theo liệu pháp hệ thống (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Xạ trị bổ trợ đơn thuần’ ở dưới.)

Thời điểm xạ trị (RT) bổ trợ

  • Nếu không có các vấn đề về lành vết thương hoặc chống chỉ định về y khoa, xạ trị bổ trợ nên được bắt đầu trong vòng sáu tuần sau phẫu thuật và cần được hoàn thành đúng thời hạn. (Xem ‘Cách thức thực hiện’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here